tinbc tinbc

Chương 213: Giấy trắng hỏi lệ

Giấy trắng hỏi lệ không bắt đầu bằng tiếng lớn; nó bắt đầu ở mép nước Vãng Sinh, nơi hũ tro buộc khăn cũ nằm dưới mồ hôi thuốc và vợ Hứa Tam chưa chịu lùi. Sen đen im dưới xương sườn hắn tại mép nước Vãng Sinh; sự im ấy sắc hơn lời dụ, vì hũ tro buộc khăn cũ đang nằm trong tay vợ Hứa Tam. Không ai quanh mép nước Vãng Sinh rảnh để bi tráng mãi; đứa bé bán lá sả còn lo bảng tên úp, và Tần Mạc phải học điều đó trong giấy trắng hỏi lệ.

Trước khi ai hỏi Tần Mạc, vợ Hứa Tam đặt hũ tro buộc khăn cũ xuống và đòi hỏi chỗ chôn người trôi lũ; giấy trắng hỏi lệ vì thế có người sống đứng đầu. Chu Bình nói: “Ghi vợ Hứa Tam trước, ghi hũ tro buộc khăn cũ sau, rồi mới tới hắn; giấy trắng hỏi lệ mà đảo thứ tự là hỏng.” Khi hũ tro buộc khăn cũ chạm mặt bàn, hơi đá cũ nổi lên; Tần Mạc hiểu giấy trắng hỏi lệ sẽ không mở nếu bỏ qua bàn tay vợ Hứa Tam.

Bên hũ tro buộc khăn cũ, khâu Đinh bắt đọc tên một dòng phụ cho giấy trắng hỏi lệ; vợ Hứa Tam bắt đọc lại, đến khi hũ tro buộc khăn cũ không còn bị gọi là vật phụ. Vợ Hứa Tam thở ra trước khi nói: “Đừng nói thay ta ở mép nước Vãng Sinh; hũ tro buộc khăn cũ thuộc về chuyện của ta trước khi thuộc về câu hỏi của ngươi.” Tiếng bụng đói của người chờ ngoài mép nước Vãng Sinh làm hũ tro buộc khăn cũ bớt giống pháp khí; vợ Hứa Tam nghe thấy trước cả Tần Mạc.

Nếu trạm chỉ nhận lệ, không nhận tên người chết chưa tự cho, mép nước Vãng Sinh sẽ ghi lỗi vào người hỏi; Tần Mạc nhìn hũ tro buộc khăn cũ và hiểu mình không được nhanh. Sổ tên mở dưới gió bến có vị sắt; Tần Mạc đứng sau vợ Hứa Tam, còn hũ tro buộc khăn cũ được ghi như chứng đời thường ở mép nước Vãng Sinh. Chu Bình gõ sổ một cái cạnh hũ tro buộc khăn cũ; âm khô ở mép nước Vãng Sinh kéo Tần Mạc khỏi lối tắt của Sát Đạo.

Hũ tro buộc khăn cũ được chuyền qua tay vợ Hứa Tam, tay Chu Bình, rồi mới tới sát Tần Mạc; thứ tự ấy làm mép nước Vãng Sinh chậm mà sạch hơn. Huệ Giác đặt dây niêm gần hũ tro buộc khăn cũ; muốn vượt lệ ở mép nước Vãng Sinh, người hỏi phải để vợ Hứa Tam ký trước. Sen đen không gào ở mép nước Vãng Sinh; nó đặt lối tắt cạnh hũ tro buộc khăn cũ, đúng nơi Tần Mạc dễ nhầm đau mình với quyền của vợ Hứa Tam.

Ông từ thấp chen vào, chìa bảng tên úp đã hỏng; vật rẻ ấy làm hũ tro buộc khăn cũ của vợ Hứa Tam có thêm bạn nghèo trong mép nước Vãng Sinh. Một tăng nhân lau máu trên bậc mép nước Vãng Sinh; bàn tay ấy tốt thật, nhưng dây niêm gần hũ tro buộc khăn cũ vẫn siết tên vợ Hứa Tam. Vợ Hứa Tam đặt xuống hũ tro buộc khăn cũ, nói rõ rằng mình cần hỏi chỗ chôn người trôi lũ; lời ấy ở mép nước Vãng Sinh không mềm, cũng không xin thương.

Xung đột hiện ra khi trạm chỉ nhận lệ, không nhận tên người chết chưa tự cho; hũ tro buộc khăn cũ lạnh đi trước, rồi vợ Hứa Tam mới hiểu mép nước Vãng Sinh đang hỏi mình. Sa di phát cháo chửi trước rồi mới run; tiếng chửi cạnh khay gỗ bỏng làm giấy trắng hỏi lệ thật hơn mọi lời kinh. Chu Bình so từng nét tên vợ Hứa Tam cạnh hũ tro buộc khăn cũ; nét mực ở mép nước Vãng Sinh xấu, nhưng không chịu gọn theo ý người cao.

Đứa bé bán lá sả khàn giọng: “Nếu bó hương gãy của ta cũng bị cân như công đức, các ngươi lấy gì gọi là từ bi ở mép nước Vãng Sinh?” Một sa di muốn giữ trật tự quanh mép nước Vãng Sinh; Đặng Nhu hỏi trật tự ấy có trả được hũ tro buộc khăn cũ cho vợ Hứa Tam không. Người giữ bếp đưa cháo qua dao tre cùn; vợ Hứa Tam không cảm ơn vội, vì hũ tro buộc khăn cũ vẫn có thể thành mục công đức.

Sen đen không gào ở mép nước Vãng Sinh; nó đặt lối tắt cạnh hũ tro buộc khăn cũ, đúng nơi Tần Mạc dễ nhầm đau mình với quyền của vợ Hứa Tam. Mạnh bà tử mắng rất khẽ bên mép nước Vãng Sinh; không chữa nhanh, không mở tắt, không lấy hũ tro buộc khăn cũ làm cớ cho Tần Mạc phát điên. Không ai khen hắn vì đã dừng; mép nước Vãng Sinh chỉ bớt lạnh quanh hũ tro buộc khăn cũ, còn vợ Hứa Tam vẫn giữ quyền nghi ngờ.

Vết thương nàng che bằng câu hỏi đói trở lại khi hũ tro buộc khăn cũ chạm ánh sáng; Tần Mạc đau, nhưng mép nước Vãng Sinh bắt hắn gọi đó là ký ức, không phải dấu Tô Vãn. Tần Mạc nói ít đi, làm chậm hơn; giấy trắng hỏi lệ ghi việc đó bằng hơi thở thiếu trước mặt vợ Hứa Tam. Cái giá của giấy trắng hỏi lệ không nổ sáng; Tần Mạc không được hỏi Hứa Tam thay nàng hiện trong cách Tần Mạc chậm một hơi bên hũ tro buộc khăn cũ.

Khi hũ tro buộc khăn cũ chạm mặt bàn, đèn dầu run nổi lên; Tần Mạc hiểu giấy trắng hỏi lệ sẽ không mở nếu bỏ qua bàn tay vợ Hứa Tam. Tiếng cãi của kẻ vá lưới rách về muôi gỗ cháy cạnh làm vài tăng nhân khó chịu; vợ Hứa Tam lại thở nhẹ, vì hũ tro buộc khăn cũ không còn cô độc. Lệ ở mép nước Vãng Sinh nói qua hũ tro buộc khăn cũ: ai chưa cho tên thì không được mượn, dù người mượn đang đau trong giấy trắng hỏi lệ.

Một nét sai trong tên vợ Hứa Tam bị Chu Bình giữ lại để sửa; giấy trắng hỏi lệ học từ nét xấu ấy nhiều hơn từ lời kinh. Tiếng bụng đói của người chờ ngoài mép nước Vãng Sinh làm hũ tro buộc khăn cũ bớt giống pháp khí; vợ Hứa Tam nghe thấy trước cả Tần Mạc. Vợ Hứa Tam đỡ dưới lòng bàn tay hũ tro buộc khăn cũ, nói rõ rằng mình cần hỏi chỗ chôn người trôi lũ; lời ấy ở mép nước Vãng Sinh không mềm, cũng không xin thương.

Trạm chỉ nhận lệ, không nhận tên người chết chưa tự cho không ầm ĩ; nó làm gói cơm nguội trên tay người mẹ ôm trẻ sốt rơi xuống cạnh hũ tro buộc khăn cũ ở mép nước Vãng Sinh. Đặng Nhu nói: “Nợ của mép nước Vãng Sinh phải viết cạnh hũ tro buộc khăn cũ; người nghèo không sống bằng lời đẹp đâu.” Một nét sai trong tên vợ Hứa Tam bị Chu Bình giữ lại để sửa; giấy trắng hỏi lệ học từ nét xấu ấy nhiều hơn từ lời kinh.

Tần Mạc không thể ghét sạch nơi có người cứu bệnh; hắn chỉ nhìn mép nước Vãng Sinh cân hũ tro buộc khăn cũ, và thấy cái ruỗng không cần mặt ác. Sát Đạo gợi rằng chỉ cần nuốt chút oán quanh hũ tro buộc khăn cũ, trạm chỉ nhận lệ, không nhận tên người chết chưa tự cho sẽ lộ nửa đường; vợ Hứa Tam đứng gần nên Tần Mạc không làm. Chu Bình gõ sổ một cái cạnh hũ tro buộc khăn cũ; âm khô ở mép nước Vãng Sinh kéo Tần Mạc khỏi lối tắt của Sát Đạo.

Bên hũ tro buộc khăn cũ, đèn sen giả từng làm nàng cau mày trở lại khi hũ tro buộc khăn cũ chạm ánh sáng; Tần Mạc đau, nhưng mép nước Vãng Sinh bắt hắn gọi đó là ký ức, không phải dấu Tô Vãn. Đám đông ở mép nước Vãng Sinh chia làm hai: người sợ Tần Mạc, người sợ mất hũ tro buộc khăn cũ, và vợ Hứa Tam đứng giữa cả hai nỗi sợ. Không ai khen hắn vì đã dừng; mép nước Vãng Sinh chỉ bớt lạnh quanh hũ tro buộc khăn cũ, còn vợ Hứa Tam vẫn giữ quyền nghi ngờ.

Chu Bình giao cho hắn phơi giấy; giấy trắng hỏi lệ không cho dùng linh lực, chỉ cho mồ hôi rơi cạnh hũ tro buộc khăn cũ. Tần Mạc cúi xuống xách nước; đứa bé bán lá sả nhìn rất kỹ, như sợ ma cũng biết làm việc nghèo ở mép nước Vãng Sinh. Một đứa trẻ đếm gạo gần mép nước Vãng Sinh, lão thu tiền thẻ kéo áo tránh bùn; giữa những việc ấy, hũ tro buộc khăn cũ của vợ Hứa Tam mới thật sự có trọng lượng.

Sổ tên mở dưới nắng chiều nằm ngang; Tần Mạc đứng sau vợ Hứa Tam, còn hũ tro buộc khăn cũ được ghi như chứng đời thường ở mép nước Vãng Sinh. Lệ ở mép nước Vãng Sinh nói qua hũ tro buộc khăn cũ: ai chưa cho tên thì không được mượn, dù người mượn đang đau trong giấy trắng hỏi lệ. Không ai tuyên án; chỉ có hũ tro buộc khăn cũ nặng hơn, vợ Hứa Tam im lâu hơn, và giấy trắng hỏi lệ ăn bớt của hắn một câu hỏi.

Tiếng cãi của bà hàng cháo về quả cân đen làm vài tăng nhân khó chịu; vợ Hứa Tam lại thở nhẹ, vì hũ tro buộc khăn cũ không còn cô độc. Người giữ bếp đưa cháo qua bát gạo cát; vợ Hứa Tam không cảm ơn vội, vì hũ tro buộc khăn cũ vẫn có thể thành mục công đức. Tần Mạc nói ít đi, làm chậm hơn; giấy trắng hỏi lệ ghi việc đó bằng hơi thở thiếu trước mặt vợ Hứa Tam.

Một vị ngọt quyền lực dâng lên sau lưỡi; giấy trắng hỏi lệ buộc Tần Mạc nhìn hũ tro buộc khăn cũ thay vì nhìn vào khoảng trống Tô Vãn để lại. Tên Tô Vãn vẫn nằm trong sổ; ở mép nước Vãng Sinh, hũ tro buộc khăn cũ thuộc về vợ Hứa Tam, nên Tần Mạc không được mượn nó. A Nhẫn đặt lòng bàn tay giữa Tần Mạc và hũ tro buộc khăn cũ; dấu câm ấy giữ vợ Hứa Tam khỏi bị nỗi nhớ trong giấy trắng hỏi lệ nuốt mất.

Khi trạm chỉ nhận lệ, không nhận tên người chết chưa tự cho, đám đông lùi không đều; vợ Hứa Tam ôm hũ tro buộc khăn cũ, còn Tần Mạc nghe giấy trắng hỏi lệ cắt vào ngực. Người nghèo không đồng lòng, nhưng ai cũng nhìn hũ tro buộc khăn cũ; nhờ vậy Tần Mạc không thể biến giấy trắng hỏi lệ thành độc thoại. Không ai được cầm hũ tro buộc khăn cũ lâu hơn vợ Hứa Tam; lệ ở mép nước Vãng Sinh bắt cả Tần Mạc cũng chỉ nhìn nó từ bên cạnh giấy trắng hỏi lệ.

Nhu cầu của vợ Hứa Tam không nằm trên trời: hỏi chỗ chôn người trôi lũ, một việc nhỏ bị trạm chỉ nhận lệ, không nhận tên người chết chưa tự cho ép thành vết cắt tại mép nước Vãng Sinh. Đặng Nhu nhắc rất chậm: “Nợ của mép nước Vãng Sinh phải viết cạnh hũ tro buộc khăn cũ; người nghèo không sống bằng lời đẹp đâu.” Chu Bình đóng sổ nửa trang tên vợ Hứa Tam cạnh hũ tro buộc khăn cũ; nét mực ở mép nước Vãng Sinh xấu, nhưng không chịu gọn theo ý người cao.

Hắn bị bắt xách nước ở mép nước Vãng Sinh; việc tay thường làm Kim Đan đau, nhưng vợ Hứa Tam nhờ đó giữ được hũ tro buộc khăn cũ. Một đứa trẻ đếm gạo gần mép nước Vãng Sinh, người chép thuê kéo áo tránh bùn; giữa những việc ấy, hũ tro buộc khăn cũ của vợ Hứa Tam mới thật sự có trọng lượng. Sau việc ấy, vợ Hứa Tam nhìn hắn khác đi; mép nước Vãng Sinh giữ hũ tro buộc khăn cũ, còn Tần Mạc mất thêm một chút dễ tự tin.

Tần Mạc không thể ghét sạch nơi có người cứu bệnh; hắn chỉ nhìn mép nước Vãng Sinh cân hũ tro buộc khăn cũ, và thấy cái ruỗng không cần mặt ác. Lệ ở mép nước Vãng Sinh nói qua hũ tro buộc khăn cũ: ai chưa cho tên thì không được mượn, dù người mượn đang đau trong giấy trắng hỏi lệ. Không ai khen hắn vì đã dừng; mép nước Vãng Sinh chỉ bớt lạnh quanh hũ tro buộc khăn cũ, còn vợ Hứa Tam vẫn giữ quyền nghi ngờ.

Tên Tô Vãn vẫn nằm trong sổ; ở mép nước Vãng Sinh, hũ tro buộc khăn cũ thuộc về vợ Hứa Tam, nên Tần Mạc không được mượn nó. A Nhẫn đặt lòng bàn tay giữa Tần Mạc và hũ tro buộc khăn cũ; dấu câm ấy giữ vợ Hứa Tam khỏi bị nỗi nhớ trong giấy trắng hỏi lệ nuốt mất. Một nét sai trong tên vợ Hứa Tam bị Chu Bình giữ lại để sửa; giấy trắng hỏi lệ học từ nét xấu ấy nhiều hơn từ lời kinh.

Trước lúc rời mép nước Vãng Sinh, giấy trắng được đóng dấu lệ nước; Tần Mạc nghe nó qua hũ tro buộc khăn cũ, không giống phần thưởng mà vẫn đủ đau. Cái giá của giấy trắng hỏi lệ không nổ sáng; Tần Mạc không được hỏi Hứa Tam thay nàng hiện trong cách Tần Mạc chậm một hơi bên hũ tro buộc khăn cũ. Tiếng bụng đói của người chờ ngoài mép nước Vãng Sinh làm hũ tro buộc khăn cũ bớt giống pháp khí; vợ Hứa Tam nghe thấy trước cả Tần Mạc.

Một nét sai trong tên vợ Hứa Tam bị Chu Bình giữ lại để sửa; giấy trắng hỏi lệ học từ nét xấu ấy nhiều hơn từ lời kinh. Sa di phát cháo nói qua kẽ răng: “Nếu que than gãy của ta cũng bị cân như công đức, các ngươi lấy gì gọi là từ bi ở mép nước Vãng Sinh?” Tần Mạc chọn đứng sau vợ Hứa Tam; lựa chọn ấy không đẹp, nhưng giữ hũ tro buộc khăn cũ khỏi bị dùng làm chìa khóa ở mép nước Vãng Sinh.

Chu Bình giao cho hắn phơi giấy; giấy trắng hỏi lệ không cho dùng linh lực, chỉ cho mồ hôi rơi cạnh hũ tro buộc khăn cũ. Tần Mạc không thể ghét sạch nơi có người cứu bệnh; hắn chỉ nhìn mép nước Vãng Sinh cân hũ tro buộc khăn cũ, và thấy cái ruỗng không cần mặt ác. Tên Tô Vãn vẫn nằm trong sổ; ở mép nước Vãng Sinh, hũ tro buộc khăn cũ thuộc về vợ Hứa Tam, nên Tần Mạc không được mượn nó.

Trước lúc rời mép nước Vãng Sinh, giấy trắng được đóng dấu lệ nước; Tần Mạc nghe nó qua hũ tro buộc khăn cũ, mỏng như dây sắp đứt mà vẫn đủ đau. Tần Mạc suýt đưa tay, rồi dừng trước hũ tro buộc khăn cũ; vợ Hứa Tam thấy sự dừng ấy ở mép nước Vãng Sinh, không biết nên sợ hay tin. Không ai tuyên án; chỉ có hũ tro buộc khăn cũ nặng hơn, vợ Hứa Tam im lâu hơn, và giấy trắng hỏi lệ ăn bớt của hắn một câu hỏi.

Cô gái phơi khăn vẫn mặc cả quả cân đen ngoài rìa mép nước Vãng Sinh; đời sống chen vào giấy trắng hỏi lệ, làm câu hỏi của Tần Mạc bớt giống chuyện duy nhất trên đời. Không ai được cầm hũ tro buộc khăn cũ lâu hơn vợ Hứa Tam; lệ ở mép nước Vãng Sinh bắt cả Tần Mạc cũng chỉ nhìn nó từ bên cạnh giấy trắng hỏi lệ. Trước lúc rời mép nước Vãng Sinh, giấy trắng được đóng dấu lệ nước; Tần Mạc nghe nó qua hũ tro buộc khăn cũ, không giống lời tha mà vẫn đủ đau.

Sau việc ấy, vợ Hứa Tam nhìn hắn khác đi; mép nước Vãng Sinh giữ hũ tro buộc khăn cũ, còn Tần Mạc mất thêm một chút dễ tự tin. Giấy trắng được đóng dấu lệ nước, không hứa đường tắt; nó chỉ khiến vợ Hứa Tam siết hũ tro buộc khăn cũ, còn Tần Mạc phải đi tiếp khỏi mép nước Vãng Sinh. Tần Mạc nói ít đi, làm chậm hơn; giấy trắng hỏi lệ ghi việc đó bằng hơi thở thiếu trước mặt vợ Hứa Tam.