Chương 194: Lễ cầu qua bến
Sáng chưa sáng hẳn, Bến Hồn Cạn đã treo dây cầu. Một đầu dây buộc vào cọc đá trước miếu hạ, đầu kia kéo qua lòng bến tới chiếc thuyền gỗ vừa cạo bùn, ở giữa treo những thẻ hương mắc lại trong đêm. Dây thừng mục đến mức chỗ nào cũng xù lông, vài đoạn được vá bằng vải áo tang, dây diều, dây gánh nước, cả sợi chỉ đỏ từng buộc guốc. Nhìn từ xa, nó không giống đường qua bến, mà giống một vết khâu vụng trên miệng nước.
Tần Mạc đứng dưới gốc lau, tay còn mùi bùn mài suốt đêm. Hắn chưa ngủ. Chu Bình cũng chưa ngủ, nhưng gã vẫn cố tỏ ra mình chỉ hơi thiếu giấc chứ không phải sắp gục. Mạnh bà tử không có ở đây, nên Lâm Bà thay bà mắng gã bằng thước dây.
“Ngồi xuống. Người sống ngã trước lễ, người chết cười.”
Chu Bình ngồi xuống ngay. “Bà mắng có hình ảnh hơn Mạnh bà tử.”
“Ta thu tiền dạy.”
Ông lái đò kiểm dây bằng tay trần. Mỗi lần chạm đoạn mục, mặt ông lại đen hơn. “Dây này qua nửa lễ là đứt.”
Khâu Đinh từ Miếu Hạ Lưu bò ra ánh sáng, lưng còng như cái móc. Hắn cầm một bó thẻ bùn đã sửa, mắt đỏ vì cả đêm không ngủ. “Không treo thì các thẻ mắc lại. Dân sẽ nói miếu giữ tên.”
Lý Ông chống gậy, giọng khàn. “Treo mà đứt, dân nói bến làm rơi tên.”
“Vậy dừng lễ,” Chu Bình nói.
Đám đông nghe thấy lập tức xôn xao. Bà góa Phan Cửu ôm bài vị. Người nhà Lữ giữ thẻ Lữ Bình. Liễu Mụi bế Tiểu Đậu đã bớt sốt nhưng vẫn yếu. Đặng Nhu đứng cạnh gùi gạo, mắt thâm. Nếu dừng lễ, những thẻ mắc trong đêm phải chờ. Chờ nghĩa là thêm phí, thêm mưa, thêm khả năng tên lại nhòe. Người nghèo không ghét nguy hiểm bằng ghét chờ không biết tới bao giờ.
Ông lái đò nhìn Chu Bình. “Dừng lễ, ai giữ đám người này khỏi hoảng?”
Gã im.
Khâu Đinh nói: “Ta có thể ghi dời.”
Lý Ông cười khô. “Ngươi ghi dời, họ tin à? Đêm qua nước lên do cống. Sáng nay lại dời vì dây. Người sống không chịu nổi hai lần đúng trên giấy.”
Tần Mạc nhìn dây buộc sổ tên dưới áo. Sợi dây ấy là dây niêm hắn tự dùng để giữ sổ khỏi rơi, cũng là thứ đã cùng hắn qua ngoại đàn, qua bếp cháo, qua cổng Phật. Nếu cởi ra, sổ tên phải buộc bằng vải khác, dễ ướt. Nếu không cởi, dây cầu có thể đứt. Nhưng đây cũng có thể là một cách nguy hiểm: biến vật riêng của hắn thành một phần lễ, để sau này người ta bảo thẻ qua bến nhờ dây của nghịch danh.
Chu Bình nhìn bàn tay hắn. “Đừng vội.”
“Ta biết.”
“Ngươi nói câu đó quá nhiều.”
Lỗ Tứ mang tới một bó dây khiêng quan cũ. “Dùng tạm. Dây này từng kéo Tống Hà, kéo Bùi Sách. Chịu lực được.”
Ông lái đò cầm lên, ngửi. “Dính máu, dính khói, dính tên tang. Dùng được, nhưng phải hỏi nhà Tống Hà.”
Thanh niên Tống Hà lập tức gật. Bà cụ tóc trắng lại chậm hơn. “Dây từng chạm quan tài chồng ta. Nếu buộc vào thẻ người khác, ông ấy có giận không?”
Không ai cười. Câu hỏi ấy rất thật. Một sợi dây không chỉ là dây khi nó đã đi qua vai người đưa tang.
Lâm Bà nói: “Tống Hà sợ nước. Dây của ông ấy nếu giúp người khác qua nước, có khi ông ấy mắng nhưng vẫn cho.”
Bà cụ suy nghĩ, rồi lấy từ túi ra miếng vải xám còn lại, buộc vào đoạn dây. “Vậy ghi: cho mượn, không cho mất.”
Khâu Đinh viết ngay. Ông lái đò nối dây khiêng quan vào đoạn mục. Dây cầu chắc hơn một chút, nhưng chỗ giữa vẫn yếu. Bành Lão đưa dây diều cũ của Từ Đại. Từ Khởi ôm diều đứng sau, mặt căng.
“Cha ta hứa diều, không hứa cầu,” nó nói.
Bành Lão hỏi: “Ngươi cho mượn không?”
Từ Khởi nhìn dây. “Nếu đứt thì sao?”
“Thì mất.”
“Nếu không cho?”
“Có thể thẻ người khác rơi.”
Từ Khởi ghét câu trả lời này. Nó ghét phải chọn. Nó nhìn Tần Mạc, như muốn hắn nói thay. Tần Mạc không nói. Một người lớn có thể giải thích, nhưng không nên cướp mất lựa chọn đau của một đứa trẻ chỉ vì mình không chịu nổi ánh mắt nó.
Cuối cùng Từ Khởi tháo một đoạn dây thừa, không phải dây chính đang giữ diều. “Đoạn này thôi. Cha ta còn nợ ta.”
Bành Lão nhận, không chê ít. “Đoạn này đủ buộc chỗ giữa.”
Tần Mạc buông tay khỏi dây sổ. Hôm nay, chưa tới lượt vật của hắn. Không phải vì hắn keo. Vì người ở đây đang tự vá cầu bằng đồ của họ, từng chút một, và hắn không được biến lễ này thành ân của mình.
Liễu Mụi ôm Tiểu Đậu tới sau cùng, tay cầm một bó dây lưới cá đã mục. “Cái này không chịu lực lớn. Nhưng buộc thẻ nhỏ được.”
Ông lái đò cầm lên xem. “Dây từng kéo cá chết.”
“Cá sống cũng kéo,” Liễu Mụi đáp. “Nhà ta không có dây sạch hơn.”
Cô bé guốc đứng cạnh nàng, đưa ra một sợi chỉ đỏ đã tháo khỏi quai guốc mẹ. Tay nó run. “Cái này buộc guốc mẹ. Chỉ một đoạn thôi. Nếu mất, ta đòi.”
Ông lái đò nhìn đứa trẻ. “Ngươi chắc?”
“Không chắc.” Nó mím môi. “Nhưng Lý bà bà chứng tên mẹ ta mua kim. Ta chứng thẻ bà ấy. Nếu chỉ đỏ không đi, thẻ bà ấy có thể rơi.”
Tần Mạc nhìn sợi chỉ đỏ. Hôm qua đứa bé còn ôm guốc không cho ai nhìn, hôm nay đã tháo một phần khỏi quai. Không phải vì nó hết sợ mất mẹ, mà vì nó bắt đầu hiểu một vật của mẹ có thể giúp tên người khác đúng chỗ mà không làm mẹ biến mất. Bài học ấy đối với người lớn cũng chưa chắc dễ.
Ông lái đò buộc chỉ đỏ vào đoạn treo thẻ Lý Tam Nương, rất cẩn thận. “Ghi cho đứa bé.”
Khâu Đinh hỏi: “Tên?”
Đứa bé lập tức lùi. “Chưa cho.”
“Vậy ghi: bé giữ guốc.”
“Ghi thêm đòi lại chỉ.”
Khâu Đinh cười khàn. “Được. Bé giữ guốc, đòi lại chỉ.”
Chu Bình nghiêng sang Tần Mạc. “Ta rất thích người biết đòi.”
“Ừ.”
“Ngươi cũng nên học.”
Tần Mạc không đáp. Hắn đã đòi trời, đòi Phật, đòi luân hồi, nhưng rất nhiều lần quên hỏi mình lấy bằng gì và trả cho ai.
Lễ bắt đầu bằng trống rách. Tiếng trống không tròn, mỗi nhịp vỡ ở đuôi, nhưng đủ để người đang cãi dừng lại. Lý Ông đọc tên từ sổ hương gãy. Khâu Đinh đối lại bằng thẻ bùn hạ lưu. Ông lái đò dùng sào đẩy thuyền gỗ dưới dây. Mỗi thẻ hương được buộc vào một vòng chỉ, kéo từ từ qua lòng bến, chạm nước rồi rời nước, giống những con cá giấy học cách thở.
Thẻ Phan Cửu qua trước. Bà góa cắn khăn để không gọi tên. Tần Mạc thấy nàng run đến vai co lại, nhưng vẫn không gọi. Thuyền qua được. Ông lái đò gật. Nàng ngồi sụp xuống, không nhẹ nhõm, chỉ kiệt sức.
Thẻ Lữ Bình qua tiếp. Người nhà Lữ cầm đồng tiền méo còn lại, xoay trong tay đến nóng. Khi thẻ tới giữa, dây rung mạnh. Từ Khởi hét: “Chỗ dây cha ta!”
Đoạn dây diều căng lên, giữ thẻ khỏi rơi. Đứa trẻ vừa sợ vừa kiêu, mặt đỏ bừng. “Thấy chưa!”
Bành Lão đập vào đầu nó. “Im, đừng dọa dây.”
Tới thẻ Lý Tam Nương, cô bé guốc tự bước lên. Nó ôm đôi guốc mẹ nhưng mắt nhìn thẻ bà bán kim. “Bà ấy giấu kim trong búi tóc,” nó nói, như sợ bến quên.
Khâu Đinh ghi bên cạnh: có người nhớ kim. Tần Mạc nhìn dòng ấy, cổ họng nghẹn. Một người chết có thể qua bến bằng một chi tiết nhỏ như kim trong búi tóc. Vậy một người đã vào luân hồi như Tô Vãn, nàng cần gì từ hắn? Không phải dây kéo, có lẽ trước hết là được nhớ đúng, kể cả những phần không đẹp, những phần không thuộc về hắn.
Lễ đi được nửa thì một thẻ hương giả bị phát hiện. Thẻ ghi tên Hứa Lăng, nhưng nét tro còn mới, không có dấu miếu. Khâu Đinh cầm thẻ, nhìn đám đông. “Ai làm?”
Không ai đáp.
Ông lái đò lạnh mặt. “Thẻ giả treo lên, dây chịu thêm, thẻ thật có thể rơi.”
Một người đàn ông trung niên quỳ xuống. “Ta làm. Em ta chết ngoài bờ lau, chưa có tiền nhang. Ta sợ chờ tới lượt thì nước lại lên.”
Lý Ông hỏi: “Tên em ngươi thật là Hứa Lăng?”
“Thật.”
“Ai chứng?”
Người kia quay đầu tìm, không ai đứng ra. Hắn bật khóc. “Nó ở bờ lau làm thuê, không thân ai.”
Tần Mạc nhớ tới những người không ai chứng, không ai bảo chữ. Hắn có sổ tên, nhưng sổ của hắn không có Hứa Lăng. Hắn không được viết thay một đời mình chưa biết.
Liễu Mụi bỗng nói: “Hứa Lăng từng mua cá vụn chịu. Hắn thiếu ta bốn đồng.”
Người đàn ông quay lại, như gặp cứu tinh. Liễu Mụi ôm Tiểu Đậu, mặt vẫn mệt. “Hắn có vết sẹo ở cổ tay. Hay nói cá của ta tanh nhưng vẫn mua.”
Khâu Đinh hỏi: “Ngươi chứng tên hay chứng nợ?”
“Cả hai. Nợ ghi sau. Cho hắn thẻ thật trước, không treo giả.”
Đặng Nhu bật cười. “Bây giờ ai cũng học ghi nợ.”
Lý Ông lấy một thẻ đất mới, viết Hứa Lăng bằng tro, để Liễu Mụi chứng. Người đàn ông trung niên dập đầu với nàng, nàng tránh. “Đừng lạy. Trả bốn đồng.”
Thẻ giả bị đốt ngay bên bến. Khói của nó đen hơn thẻ thật vì giấy tẩm dầu rẻ. Ông lái đò mắng một tràng rất dài, từ người làm giả tới người bán giấy. Nhưng lễ tiếp tục. Không tiếp tục thì đám đông sẽ vỡ.
Người đàn ông làm thẻ giả không được thả đi ngay. Lý Ông bắt hắn ngồi cạnh chậu tro, cắt những thẻ đất mới cho người không có giấy. “Ngươi muốn chen cho em ngươi vì sợ. Bây giờ ngồi đây xem mỗi cái tên bị chen sẽ làm ai rơi.”
Hắn cúi đầu cắt thẻ, tay run đến mấy lần làm đất vỡ. Người nhà Lữ mắng hắn một câu. Bà góa Phan Cửu cũng mắng. Liễu Mụi không mắng, chỉ đặt Tiểu Đậu ngủ xa chỗ khói. Đặng Nhu nhìn một lúc rồi đưa cho hắn con dao nhỏ hơn. “Cắt bằng dao kia thì vỡ hết. Vỡ nữa lại thiếu thẻ.”
Hắn nhận dao, ngẩng lên ngập ngừng. “Ta làm thẻ giả.”
“Ta biết. Ta cũng suýt đổi tên cha.” Đặng Nhu lạnh mặt. “Làm thẻ thật đi.”
Tần Mạc nghe câu ấy, thấy một thứ rất khó gọi tên: người từng suýt sai không vì vậy mà thành người rộng lượng sạch sẽ; nàng chỉ biết cái tay run khi sợ, nên ném cho kẻ khác con dao đỡ làm hỏng việc. Đời sống không tha tội bằng lời. Nó bắt người ta làm lại trong bùn.
Khi thẻ Hứa Lăng qua, dây cầu rên lên. Đoạn dây khiêng quan của Lỗ Tứ chịu lực, đoạn dây diều của Từ Đại siết vào, vải xám của bà cụ Tống Hà ướt sẫm. Tần Mạc cảm thấy sổ tên dưới áo như đập vào ngực. Hắn không cởi dây, nhưng một phần hắn xấu hổ vì nhẹ nhõm. Hắn vẫn giữ được đồ của mình trong khi người khác đã cho mượn phần họ đau.
Chu Bình nhìn hắn. “Giữ lại cũng có giá.”
“Ừ.”
“Đừng tự đâm mình bằng đạo lý. Lần sau có thể tới lượt ngươi.”
Tần Mạc gật. Hắn biết. Không phải mọi lần không cho đều là ích kỷ. Không phải mọi lần cho đều là đúng. Vấn đề là khi tới lượt thật, hắn có nhận ra hay lại trốn sau việc người khác đã đủ?
Lễ kết khi mặt trời lên khỏi mái miếu, ánh sáng xám chiếu qua nước rút. Không có thần hiện. Không có hoa sen nổi. Chỉ có người mệt lả, dây ướt, thẻ qua bến và một danh sách nợ dài hơn hôm qua. Dân không reo. Họ kiểm lại tên, kiểm lại dây, kiểm lại người sống bên cạnh mình.
Khâu Đinh ngồi bệt dưới hiên, lưng đau đến không đứng dậy nổi. Đặng Nhu đưa cho hắn một bát nước gạo loãng còn lại. “Nợ.”
“Ta đâu xin.”
“Ta cho vay.”
Hắn nhận, uống một ngụm, mặt nhăn vì cát chưa nhặt hết. “Gạo của ngươi còn cát.”
“Lần sau tự nhặt.”
Tần Mạc đứng cạnh bến, nhìn dây cầu được tháo. Từ Khởi chạy tới lấy lại đoạn dây của cha, phát hiện nó sờn thêm, mặt lập tức xấu đi. Bành Lão không dỗ, chỉ đưa cho nó mảnh giấy ướt còn dư. “Vá diều.”
“Dây xấu rồi.”
“Dây đã làm việc.”
Từ Khởi ôm dây, không biết nên buồn hay tự hào.
Cô bé guốc cũng tới đòi chỉ. Ông lái đò tháo sợi chỉ đỏ, nhưng nó đã phai màu vào nước, không còn đỏ như trước. Đứa bé nhìn sợi chỉ rất lâu. Môi nó mím lại, mắt bắt đầu ướt.
“Ta đã nói đòi lại,” nó nói.
Ông lái đò không cãi. “Đòi đúng. Bến trả không nguyên.”
“Vậy bến nợ.”
“Ừ. Bến nợ.”
“Nợ gì?”
Ông già im một lúc, rồi lấy từ túi áo ra một vỏ ốc nhỏ dùng thổi còi, đặt vào tay nó. “Khi nào muốn gọi ta trả chỉ, thổi. Ta nghe được thì tới.”
Đứa bé cầm vỏ ốc, vẫn buồn nhưng không khóc. “Mẹ con không thích tiếng ốc.”
“Vậy thổi nhỏ.”
Chu Bình quay mặt đi cười không tiếng. Tần Mạc nhìn sợi chỉ phai màu, hiểu thêm một điều: cho mượn không phải lúc nào cũng trả về nguyên. Người cho có quyền buồn, quyền đòi, quyền nhớ mất mát ấy. Không ai được dùng hai chữ công đức để bắt họ vui.
Ông lái đò bước tới Tần Mạc. “Ngươi hôm nay không cởi dây sổ.”
“Ừ.”
“Tốt hay xấu?”
“Chưa biết.”
Ông cười khàn. “Biết nói chưa biết là tiến bộ. Tối nay nếu nước không lên nữa, mai tìm người làm chứng sợ ngươi. Nhưng trước đó, ăn cơm đi. Người đói nghe nước gọi dễ nhầm.”
Nhắc tới cơm, Tần Mạc mới nhận ra mùi cơm cúng đang bay từ Miếu Nửa Mái xuống. Lễ cầu qua bến xong, nhà nào đặt cơm cho người chết nhà ấy. Mùi cơm nguội, cá khô, rau muối trộn nhau thành mùi rất người.
Từ phía hiên miếu, một tiếng cãi bỗng vang lên. Một bát cơm đặt nhầm trước bài vị Lý Tam Nương, nhưng người đem cơm lại gọi tên mẹ mình. Cô bé guốc hét rằng đó không phải cơm của bà bán kim. Liễu Mụi ôm Tiểu Đậu đứng bật dậy.
Tần Mạc nhắm mắt một nhịp. Lễ qua bến vừa xong, tên vẫn chưa chịu yên.