Chương 148: Miếu giữa đường
Miếu nhỏ ven quan đạo có mái dột và bảng công đức treo lệch. Tên nhà giàu được khắc sâu trên gỗ đỏ, chữ to bằng hai ngón tay. Người nghèo góp một đồng chỉ được chấm mực bên mép bảng. Ông từ giữ miếu ngồi dưới hiên vá lại bó nhang gãy, miệng tính nếu tối nay không bán thêm được ba bó thì mái tây mùa mưa sẽ sập.
Tần Mạc đứng trước bảng rất lâu. Hắn muốn bẻ nó xuống. Ông từ thấy ánh mắt ấy, lập tức ôm bảng như ôm con. “Đập thì tên nhỏ mất trước! Tên to còn nằm trong sổ nhà giàu, tên nghèo chỉ có cái chấm này thôi.” Câu ấy làm tay Tần Mạc dừng lại.
Hắn lấy bút, thêm một chấm mực rất nhỏ ở chỗ trống. Không viết Tô Vãn. Không viết mình. Chỉ một chấm cho người không được ghi. Ông từ nhìn chấm mực, tức vì sai quy định, nhưng không lau. “Mực xấu,” ông lẩm bẩm. “Nhưng để mai hẵng tính.” Trong miếu, mắt tượng thần bỗng tối đi rồi sáng lại.
Rồi có người làm sai theo cách rất người. Hắn giơ tay làm cả bảng rung, khiến những tên nhỏ ở mép dưới suýt rơi khỏi đinh tre. Cái sai quanh ông từ giữ miếu không làm người ta thành ác nhân, nhưng cũng không vì đáng thương mà tự biến mất. Nó nằm lại trong nhang rẻ, cơm nguội chua và bảng công đức lệch, gai góc, bắt Tần Mạc hiểu người bị ép vẫn có thể làm đau người yếu hơn mình.
Hắn nhớ Tô Vãn bằng một mẩu không giúp hắn thắng. Tô Vãn từng nhặt một tờ công đức rơi dưới đất, bảo người viết ít tiền không có nghĩa là lòng nhẹ hơn. Ký ức ấy không đứng làm cờ hiệu cho hắn ở miếu nhỏ ven quan đạo; nó kéo tay hắn xuống, nhắc rằng nàng từng khó chịu, từng có quyền riêng, từng không muốn bị dùng làm lý do đẹp đẽ cho máu của người khác.
Đường hành hương không biết Tần Mạc là ai. Nó biết mùi nhang rẻ và cơm nguội chua, biết người thiếu tiền hương, biết xe bệnh cần qua dốc trước tối. Chính vì không biết hắn, con đường ở miếu nhỏ ven quan đạo mới buộc câu hỏi về Tô Vãn phải đi chậm qua đời ông từ giữ miếu và những người khác.
Ông từ kể bảng công đức này do cha ông để lại, đã sửa ba lần, mỗi lần sửa tên lớn lại được sơn mới, tên nhỏ thì bị cạo mỏng thêm. “Ta biết xấu,” ông nói, tay vẫn ôm bảng. “Nhưng trấn này hạn hán là tới đây cầu mưa. Tên nhỏ có chỗ bám còn hơn không.” Tần Mạc nghe chữ bám và buông tay khỏi Câu Hồn Ấn.
Một cô gái hành hương hỏi nếu chấm mực vô danh của Tần Mạc là cho ai. Hắn đáp: “Một người không cần thần biết tên để từng là người.” Ông từ lườm hắn, bảo nói thế dễ làm thần phật phật ý. Nhưng khi thắp lại nhang, ông đặt cây nhang gãy cạnh chấm mực mới, không thu tiền. Động tác ấy rất nhanh, như sợ chính mình đổi ý.
Đêm xuống, nước mưa dột qua mái tây rơi đúng trước bảng. Tần Mạc lấy gậy Đào Quý để chống tạm mái dột. Ông từ định ngăn vì gậy của khách, rồi thôi. Một cái gậy giữ mái cho những cái tên nhỏ, ít nhất trong một đêm. Thần chưa chắc nghe, nhưng mái không sập ngay.
Tần Mạc hạ tay, viết thêm một chấm vô danh cho Tô Vãn ở mép bảng thay vì phá bảng. Việc đó không làm hắn sạch. Nó chỉ khiến Tần Mạc đặt một chấm vô danh cho Tô Vãn thay vì phá bảng bẩn theo cách hắn còn dám nhìn thẳng: không để người vô can quanh ông từ giữ miếu trả giá thay cho cơn đau đang réo tên Tô Vãn trong xương.
Cái giá đến ngay trong chương này. Viết một chấm nhỏ cho nàng đau hơn khắc tên thật, vì hắn không được quyền gọi nàng về bằng chữ lớn. Từ sau Cấm Viện, sức mạnh không chỉ để lại vết thương ngoài da; ngay trước mái miếu dột, nó dạy hắn nhìn người khác như đường tắt, như thuốc, như chứng cứ, rồi bắt hắn ghê sợ vì đã nhìn được như vậy.
Ông từ giữ miếu cũng có mặt trong vết nứt ấy. Đưa cây bút cùn, mắt vẫn canh xem hắn có làm gãy cột không. Sự có mặt ấy không biến miếu nhỏ ven quan đạo thành trắng đen; nó chỉ làm mọi thứ khó chịu hơn, vì ai cũng có một lý do nhỏ để chưa thể đứng hẳn về phía đúng.
Nơi chốn không đóng lại sau khi hắn đau xong. Người hành hương vào miếu tránh mưa, vừa lạy vừa hỏi nhau xe thuốc gãy có được tính công đức không. Sau khi chính đạo và ma khí va nhau ở miếu nhỏ ven quan đạo, vẫn còn người lau bậc đá, nhặt thuốc, sửa bánh xe, giữ con khỏi khóc hoặc vá lại phần đời bị Tần Mạc đặt một chấm vô danh cho Tô Vãn thay vì phá bảng làm lệch.
Thanh y dưới áo hắn im lặng. Giữa nhang rẻ, cơm nguội chua và bảng công đức lệch, có lúc nó lạnh, có lúc nó sáng, nhưng chưa bao giờ trả lời theo cách người tuyệt vọng muốn nghe. Sự im lặng ấy giữ Tô Vãn khỏi bị gọi đâu tới đó; dù mắt Ty Mệnh đang chờ phía trước, nàng vẫn đã vào luân hồi, không phải phần thưởng cho việc hắn chịu khổ đủ lâu.
Phật Đài còn chưa hiện ra trọn vẹn, nhưng bóng của nó đã nằm quanh miếu nhỏ ven quan đạo: thẻ công đức, bát tiền, thứ tự xe bệnh, mái miếu dột, và cách mái miếu dột được ghi to hay nhỏ. Nơi ấy không thể chỉ bị chém bằng một câu ‘giả thiện’.
Ở miếu nhỏ ven quan đạo, càng nhiều thứ mang vẻ sáng sạch hoặc từ bi, sự im lặng của người thấp càng nặng. Có người sợ mất mái miếu dột, có người sợ mất chỗ cầu, có người chỉ muốn người thân thở qua đêm sau Tần Mạc đặt một chấm vô danh cho Tô Vãn thay vì phá bảng. Chính sự sợ rất thật đó giúp những lời đẹp đứng vững.
Đến cuối cảnh, thứ còn lại là một dấu hiệu không chịu khép. Khi chấm mực khô, mắt tượng thần mở ra một khe sáng như sổ nào đó vừa nhìn xuống. Tần Mạc hiểu dấu hiệu dẫn tới mắt Ty Mệnh không phải lối thoát, chỉ là cửa kế tiếp của cùng một câu hỏi: làm sao hỏi về Tô Vãn mà không nghiền nát những người chưa từng nợ hắn ở miếu nhỏ ven quan đạo?
Ông từ giữ miếu không cao thượng; ông sợ mái dột, sợ mất nhang, sợ trấn không còn chỗ cầu mưa. Tần Mạc thấy điều đó và không biết nên đặt nó vào đâu trong ngực. Trước kia hắn có thể bỏ qua người ngoài miếu nhỏ ven quan đạo; bây giờ chỉ cần bỏ qua mái miếu dột, cả chấm công đức vô danh đã có thể làm một cái tên trượt khỏi tay.
Hắn lấy tấm vải ghi tên ra. Có tên đứng yên dưới đầu bút, có tên run theo nhang rẻ, cơm nguội chua và bảng công đức lệch, có tên vừa viết đã bị dư âm của chấm công đức vô danh làm nhòe. Hắn ghét cách giữ người vụng về đó, nhất là khi mắt Ty Mệnh đang chờ; nhưng nếu bỏ nó, Sát Đạo sẽ cho hắn lối dễ hơn nhiều: nuốt, mạnh lên, rồi gọi khoảng trống sau chấm công đức vô danh là tất yếu.
Vì vậy hắn đi chậm hơn mình muốn. Chậm ở miếu nhỏ ven quan đạo không phải chiến thắng; nó chỉ là chưa để cái đói trong ngực quyết định thay ông từ giữ miếu và những người đứng cạnh. Phía trước là Ty Mệnh, phía sau là những người còn phải sống với lời hắn không kịp sửa.
Điều níu hắn lại không phải một chân lý, mà là mùi nhang rẻ và cơm nguội chua. Nó làm cảnh này không thể bị rút gọn thành thắng hay thua. Người trên cao đã quen rút người thấp thành mục, số, vật chứng, công đức; nếu hắn cũng rút gọn ông từ giữ miếu trong chấm công đức vô danh, hắn chỉ thay màu mực đỏ bằng ma khí đen.
Một người đi ngang nhặt mái miếu dột hoặc thứ còn sót của nó, tránh nhìn thẳng vào Tần Mạc. Cử chỉ ấy nhỏ nhưng có thật. Nó nói rằng người ta chưa biết nên gọi hắn là ân nhân hay tai họa. Tần Mạc không ép người ở miếu nhỏ ven quan đạo chọn, vì chính hắn cũng chưa tự chọn xong mình là gì sau khi nuốt oán đạo, luật, và đi qua chấm công đức vô danh.
Không Hối từng giữ hắn lại bằng một câu rất đời: đặt ba đồng tiền chôn bạn lên bậc cửa rồi không cầu gì cho mình. Câu giữ hắn lại ở miếu nhỏ ven quan đạo không cao minh, cũng không đủ đẹp để khắc lên bia, nhưng nó làm nhát tiếp theo của hắn chậm hơn trước mái miếu dột. Đôi khi một nhát chậm là toàn bộ phần người còn lại.
Nếu Tô Vãn đứng ở đây, có lẽ nàng sẽ không khen hắn. Nghĩ vậy khiến hắn dễ thở hơn một chút. Một Tô Vãn có thể mắng hắn vì chấm công đức vô danh, có thể cau mày trước mái miếu dột, vẫn là người trong ký ức; không phải tượng ngọc đặt cuối đường để hắn dâng chiến công.
Khi hắn rời hoặc đứng lại, ông từ giữ miếu vẫn còn việc chưa xong: đoàn hành hương mua thêm nhang để sửa mái dột trước mùa mưa. Người khác quanh miếu nhỏ ven quan đạo còn thuốc, lời khai, chỗ đứng, xe bệnh, tiền hương, hoặc chính mái miếu dột phải giữ qua đêm. Hắn không thể mang hết họ từ miếu nhỏ ven quan đạo tới mắt Ty Mệnh, và việc không thể ấy nặng hơn rất nhiều lời thề lớn.
Dấu Nghịch Thiên nóng lên rồi lặng xuống. Nó không cho hắn sức mạnh miễn phí. Nó chỉ nhắc rằng mỗi lần hắn chọn đường ngắn qua chấm công đức vô danh, trên da sẽ thêm một nét để người khác ở miếu nhỏ ven quan đạo đọc thành ma. Hắn kéo tay áo che dấu ấy, không phải vì sợ trời, mà vì ông từ giữ miếu hoặc người gần nhất với mái miếu dột vừa lùi nửa bước.
Bên cạnh mùi nhang rẻ và cơm nguội chua, Tần Mạc nghe người ta nói về hắn bằng giọng đã được mài sẵn. Có người thêm, có người bớt, có người lặp lại để khỏi bị nghi mềm lòng. Hắn từng nghĩ lời dối trong chấm công đức vô danh đáng ghét vì sai; giờ hắn biết nó còn đáng sợ vì giúp người nghe ở miếu nhỏ ven quan đạo đỡ phải chọn.
Ông từ giữ miếu không nhìn hắn như một vị cứu tinh. Cái nhìn ấy có sợ, có oán, có một chút muốn hỏi mà không dám. Tần Mạc giữ cái nhìn của ông từ giữ miếu lại trong trí nhớ, vì người được cứu cùng mái miếu dột không có bổn phận phải làm hắn thấy mình còn tốt.
Mái miếu dột trở thành vật neo của chương này: một vệt nước cũ chạy dọc lưng tượng như vết khóc bẩn. Mái miếu dột không lớn bằng thanh y, không sáng bằng Thiên Luật, nhưng nó thuộc về một phần đời cụ thể ở miếu nhỏ ven quan đạo. Nếu hắn không học giữ mái miếu dột và những thứ cụ thể như vậy, hắn không có quyền hỏi dòng sâu về một người cũng từng sống cụ thể.
Có một nhịp sau chấm công đức vô danh, hắn muốn bỏ hết để chạy thẳng lên nơi cao hơn: Phật Đài, Thành Hoàng, Thiên Đình, bất cứ đâu buộc phải trả lời tên Tô Vãn. Ý nghĩ đó vừa nổi đã mang mùi Sát Đạo lẫn nhang rẻ, cơm nguội chua và bảng công đức lệch: đi nhanh, đi thẳng, đi qua người cản đường. Hắn ép mình đứng thêm một nhịp nữa.
Miếu nhỏ nhận đoàn người bằng mái dột và bát nhang rẻ. Ông từ giữ miếu nhìn xe thuốc gãy trước, nhìn người bị thương sau, rồi mới nhìn Tần Mạc. Ông hỏi ai mua nhang thì vào bên phải, ai chỉ tránh mưa thì né chỗ dột bên trái. Lời phân loại ấy chẳng thiêng liêng, nhưng nhờ nó mà trẻ bệnh có chỗ nằm khô hơn.
Bảng công đức treo lệch dưới hiên. Tên phú hộ viết to bằng nửa bàn tay, tên người nghèo tụ thành chấm nhỏ ở mép dưới. Tần Mạc nhìn nó và thấy Thiên Luật dưới dạng quê mùa hơn: vẫn là cân, vẫn là cỡ chữ, vẫn là người ít tiền phải đứng sát chỗ mưa tạt. Tay hắn nâng lên. Mấy cái tên nhỏ run theo bảng.
Ông từ giữ miếu chụp lấy cổ tay hắn. Ông không có tu vi đáng kể, bàn tay toàn mùi nhang và mốc gỗ. Ông bảo phá bảng thì tên lớn mất ít, tên nhỏ mất hết. Người nghèo không có bia khác đâu. Tần Mạc nhìn những chấm mực bé đến mức gần như bụi, rồi hạ tay. Có những thứ bất công vẫn là mái che cuối cùng của người không đủ sức xây mái khác.
Hắn mượn bút cùn viết một chấm vô danh cho Tô Vãn. Không viết tên, vì tên nàng không phải thứ để treo trong miếu lạ. Chấm mực khô rất chậm. Khi nó gần khô, mắt tượng thần bong sơn mở một khe. Không có hào quang, chỉ có cảm giác một lại mục rất xa vừa ngẩng đầu khỏi sổ.