Chương 143: Nhìn ta đi
Nhà thợ săn lúc trời vừa bạc không yên như tên gọi của nó. Ánh sáng xám bò qua khe vách, nước thuốc nguội đóng váng trên miệng bát. Ở nhà thợ săn lúc trời bạc, Tần Mạc giữ thanh y ép dưới áo; Dấu Nghịch Thiên nóng lên theo thuốc nguội, ánh xám và ký ức bánh nếp như một con dấu riêng của Chu Bình bắt Tần Mạc gọi đúng chuyện cũ để giữ người đang đóng vào da hắn.
Không có Thiên Luật ở đây, chỉ có luật bạn cũ: nhìn nhau, gọi tên nhau, đừng biến người kia thành thứ dùng được. Cỗ máy ấy không cần ai gào chính nghĩa cho vang. Mạnh bà tử ngủ gục bên bếp nhưng tay vẫn đặt lên túi kim; bên cạnh còn người bưng nước, người đóng dấu, người nhặt giấy rơi để khỏi bị phạt. Sự bình thường đó làm Tần Mạc khó chém hơn bất cứ tiếng mắng nào.
Chu Bình chỉ muốn chắc người trước mặt còn nhận ra mình chứ không chỉ nhận ra phần hồn có thể dùng. Việc ấy nhỏ, nhưng nó có mùi, có tay, có người bị liên lụy nếu hỏng: tấm vải cũ đã dày chữ, có chỗ bị máu làm nhòe tên Lạn. Tần Mạc nhìn tấm vải ghi nợ trước khi nhìn thấy đại nghĩa; nhờ vậy Chu Bình bắt Tần Mạc gọi đúng chuyện cũ để giữ người không lập tức bị hắn rút gọn thành một lưỡi kiếm.
Chu Bình buộc Tần Mạc kể lại một chuyện nhỏ giữa họ để chứng minh hắn chưa bị luật và oán đạo ăn mất trí nhớ người sống. Lý trí nói hắn nên chọn đường nhanh nhất. Thân thể sau Cấm Viện lại nghe thấy một câu khác ngay giữa nhà thợ săn lúc trời bạc: nuốt đi, phá đi, lấy nỗi sợ làm đường. Hắn phải cắn chặt răng để phân biệt việc cần làm cho Chu Bình với cơn đói đang giả giọng đúng đắn.
Rồi có người làm sai theo cách rất người. Tần Mạc nổi giận vì bị hỏi khi còn đau, rồi phát hiện mình nhớ cách giết nhanh hơn nhớ chuyện bánh nếp. Cái sai quanh Chu Bình không làm người ta thành ác nhân, nhưng cũng không vì đáng thương mà tự biến mất. Nó nằm lại trong thuốc nguội, ánh xám và ký ức bánh nếp, gai góc, bắt Tần Mạc hiểu người bị ép vẫn có thể làm đau người yếu hơn mình.
‘Nói đi, lần đầu ta trộm bánh cho ngươi là bánh gì?.’ Câu nói ấy không cứu được ai ngay lập tức. ‘Bánh nếp cháy cạnh… ngươi ăn nhiều hơn ta.’ Nó chỉ làm vết xước giữa người với người hiện rõ hơn. Tần Mạc muốn đáp, rồi nhận ra trong Chu Bình bắt Tần Mạc gọi đúng chuyện cũ để giữ người, mỗi lời của hắn đều có thể bị kéo thành chứng cho một bên khác.
Hắn nhớ Tô Vãn bằng một mẩu không giúp hắn thắng. Tô Vãn từng cười khi nghe chuyện ấy, bảo người nghèo nhớ đồ ăn rõ hơn nhớ lời thề là chuyện rất đúng. Ký ức ấy không đứng làm cờ hiệu cho hắn ở nhà thợ săn lúc trời bạc; nó kéo tay hắn xuống, nhắc rằng nàng từng khó chịu, từng có quyền riêng, từng không muốn bị dùng làm lý do đẹp đẽ cho máu của người khác.
Dân trong cảnh ấy không ngu. Họ tin vì Thái Huyền từng phát cháo thật, cứu dịch thật, sửa cầu qua vực thật; ở nhà thợ săn lúc trời bạc, chính những việc thật ấy làm lời dối quanh bài kiểm tra tên cũ có chỗ đứng trong bụng người nghe.
Tần Mạc kể được chuyện bánh nếp, nhưng đến tên Lạn trong đèn số chín mươi ba thì âm cuối trượt khỏi lưỡi. Việc đó không làm hắn sạch. Nó chỉ khiến Chu Bình bắt Tần Mạc gọi đúng chuyện cũ để giữ người bẩn theo cách hắn còn dám nhìn thẳng: không để người vô can quanh Chu Bình trả giá thay cho cơn đau đang réo tên Tô Vãn trong xương.
Cái giá đến ngay trong chương này. Một người đã được thả về luân hồi vẫn có thể bị hắn làm rơi khỏi trí nhớ. Từ sau Cấm Viện, sức mạnh không chỉ để lại vết thương ngoài da; ngay trước tấm vải ghi nợ, nó dạy hắn nhìn người khác như đường tắt, như thuốc, như chứng cứ, rồi bắt hắn ghê sợ vì đã nhìn được như vậy.
Chu Bình cũng có mặt trong vết nứt ấy. Không mắng nữa, chỉ bắt hắn viết lại tên ngay khi còn run tay. Sự có mặt ấy không biến nhà thợ săn lúc trời bạc thành trắng đen; nó chỉ làm mọi thứ khó chịu hơn, vì ai cũng có một lý do nhỏ để chưa thể đứng hẳn về phía đúng.
Có những đoạn Tần Mạc làm người khác sợ thật. Không phải vì ma khí bốc lên, mà vì ngay cạnh Chu Bình, mắt hắn tính quá nhanh một người sống có thể đổi thành bao nhiêu bước đi. Hắn thường dừng lại trước khi bàn tay khép xuống. Nhưng việc phải dừng đã chứng minh hắn không còn ở chỗ cũ.
Nơi chốn không đóng lại sau khi hắn đau xong. Mạnh bà tử tỉnh dậy, nhìn hai kẻ thương tích cãi nhau vì một chữ sai mà thở dài nhẹ hơn. Sau khi chính đạo và ma khí va nhau ở nhà thợ săn lúc trời bạc, vẫn còn người lau bậc đá, nhặt thuốc, sửa bánh xe, giữ con khỏi khóc hoặc vá lại phần đời bị Chu Bình bắt Tần Mạc gọi đúng chuyện cũ để giữ người làm lệch.
Tần Mạc không được đứng ngoài sạch sẽ. Mỗi lần hắn muốn sửa sự thật của Chu Bình bắt Tần Mạc gọi đúng chuyện cũ để giữ người bằng kiếm, hắn cũng muốn mượn nỗi sợ của người khác để mở đường. Phần người còn lại giữ tay hắn không phải vì hắn hiền, mà vì hắn sợ mình đang học quá nhanh cách biến Chu Bình và những người giống vậy thành vật chứng cho nỗi đau riêng.
Thanh y dưới áo hắn im lặng. Giữa thuốc nguội, ánh xám và ký ức bánh nếp, có lúc nó lạnh, có lúc nó sáng, nhưng chưa bao giờ trả lời theo cách người tuyệt vọng muốn nghe. Sự im lặng ấy giữ Tô Vãn khỏi bị gọi đâu tới đó; dù sổ tên bên suối đang chờ phía trước, nàng vẫn đã vào luân hồi, không phải phần thưởng cho việc hắn chịu khổ đủ lâu.
Đại Thẩm không chỉ là một trận đánh. Riêng nhà thợ săn lúc trời bạc, niềm tin còn có hình dạng rất chợ: nước gừng, ghế xem án, thẻ công đức, trẻ con được dặn đừng chen, người già mang áo mưa để sống qua bài kiểm tra tên cũ.
Ở nhà thợ săn lúc trời bạc, càng nhiều thứ mang vẻ sáng sạch hoặc từ bi, sự im lặng của người thấp càng nặng. Có người sợ mất tấm vải ghi nợ, có người sợ mất chỗ cầu, có người chỉ muốn người thân thở qua đêm sau Chu Bình bắt Tần Mạc gọi đúng chuyện cũ để giữ người. Chính sự sợ rất thật đó giúp những lời đẹp đứng vững.
Đến cuối cảnh, thứ còn lại là một dấu hiệu không chịu khép. Tấm vải ghi nợ không đủ nữa; Tần Mạc cần một sổ tên rõ ràng hơn trước khi bước sang đường Phật Đài. Tần Mạc hiểu dấu hiệu dẫn tới sổ tên bên suối không phải lối thoát, chỉ là cửa kế tiếp của cùng một câu hỏi: làm sao hỏi về Tô Vãn mà không nghiền nát những người chưa từng nợ hắn ở nhà thợ săn lúc trời bạc?
Gã nói ít đi sau mỗi cơn ho, nhưng cứ đúng lúc Tần Mạc muốn đi đường tắt thì lại tỉnh. Tần Mạc thấy điều đó và không biết nên đặt nó vào đâu trong ngực. Trước kia hắn có thể bỏ qua người ngoài nhà thợ săn lúc trời bạc; bây giờ chỉ cần bỏ qua tấm vải ghi nợ, cả bài kiểm tra tên cũ đã có thể làm một cái tên trượt khỏi tay.
Hắn lấy tấm vải ghi tên ra. Có tên đứng yên dưới đầu bút, có tên run theo thuốc nguội, ánh xám và ký ức bánh nếp, có tên vừa viết đã bị dư âm của bài kiểm tra tên cũ làm nhòe. Hắn ghét cách giữ người vụng về đó, nhất là khi sổ tên bên suối đang chờ; nhưng nếu bỏ nó, Sát Đạo sẽ cho hắn lối dễ hơn nhiều: nuốt, mạnh lên, rồi gọi khoảng trống sau bài kiểm tra tên cũ là tất yếu.
Vì vậy hắn đi chậm hơn mình muốn. Chậm ở nhà thợ săn lúc trời bạc không phải chiến thắng; nó chỉ là chưa để cái đói trong ngực quyết định thay Chu Bình và những người đứng cạnh. Phía trước là dòng suối, phía sau là những người còn phải sống với lời hắn không kịp sửa.
Điều níu hắn lại không phải một chân lý, mà là mùi thuốc nguội và bánh nếp trong ký ức. Nó làm cảnh này không thể bị rút gọn thành thắng hay thua. Người trên cao đã quen rút người thấp thành mục, số, vật chứng, công đức; nếu hắn cũng rút gọn Chu Bình trong bài kiểm tra tên cũ, hắn chỉ thay màu mực đỏ bằng ma khí đen.
Một người đi ngang cầm tấm vải ghi nợ hoặc thứ còn sót của nó, tránh nhìn thẳng vào Tần Mạc. Cử chỉ ấy nhỏ nhưng có thật. Nó nói rằng người ta chưa biết nên gọi hắn là ân nhân hay tai họa. Tần Mạc không ép người ở nhà thợ săn lúc trời bạc chọn, vì chính hắn cũng chưa tự chọn xong mình là gì sau khi nuốt oán đạo, luật, và đi qua bài kiểm tra tên cũ.
Tề lão đạo từng giữ hắn lại bằng một câu rất đời: đến muộn, nghe chuyện bánh rồi chê hai đứa nghèo đến mức ký ức cũng khét. Câu giữ hắn lại ở nhà thợ săn lúc trời bạc không cao minh, cũng không đủ đẹp để khắc lên bia, nhưng nó làm nhát tiếp theo của hắn chậm hơn trước tấm vải ghi nợ. Đôi khi một nhát chậm là toàn bộ phần người còn lại.
Nếu Tô Vãn đứng ở đây, có lẽ nàng sẽ không khen hắn. Nghĩ vậy khiến hắn dễ thở hơn một chút. Một Tô Vãn có thể mắng hắn vì bài kiểm tra tên cũ, có thể cau mày trước tấm vải ghi nợ, vẫn là người trong ký ức; không phải tượng ngọc đặt cuối đường để hắn dâng chiến công.
Khi hắn rời hoặc đứng lại, Chu Bình vẫn còn việc chưa xong: chắc người trước mặt còn nhận ra mình chứ không chỉ nhận ra phần hồn có thể dùng. Người khác quanh nhà thợ săn lúc trời bạc còn thuốc, lời khai, chỗ đứng, xe bệnh, tiền hương, hoặc chính tấm vải ghi nợ phải giữ qua đêm. Hắn không thể mang hết họ từ nhà thợ săn lúc trời bạc tới sổ tên bên suối, và việc không thể ấy nặng hơn rất nhiều lời thề lớn.
Dấu Nghịch Thiên nóng lên rồi lặng xuống. Nó không cho hắn sức mạnh miễn phí. Nó chỉ nhắc rằng mỗi lần hắn chọn đường ngắn qua bài kiểm tra tên cũ, trên da sẽ thêm một nét để người khác ở nhà thợ săn lúc trời bạc đọc thành ma. Hắn kéo tay áo che dấu ấy, không phải vì sợ trời, mà vì Chu Bình hoặc người gần nhất với tấm vải ghi nợ vừa lùi nửa bước.
Bên cạnh mùi thuốc nguội và bánh nếp trong ký ức, Tần Mạc nghe người ta nói về hắn bằng giọng đã được mài sẵn. Có người thêm, có người bớt, có người lặp lại để khỏi bị nghi mềm lòng. Hắn từng nghĩ lời dối trong bài kiểm tra tên cũ đáng ghét vì sai; giờ hắn biết nó còn đáng sợ vì giúp người nghe ở nhà thợ săn lúc trời bạc đỡ phải chọn.
Chu Bình không nhìn hắn như một vị cứu tinh. Cái nhìn ấy có sợ, có oán, có một chút muốn hỏi mà không dám. Tần Mạc giữ cái nhìn của Chu Bình lại trong trí nhớ, vì người được cứu cùng tấm vải ghi nợ không có bổn phận phải làm hắn thấy mình còn tốt.
Mảnh vải ghi nợ trở thành vật neo của chương này: tấm vải cũ đã dày chữ, có chỗ bị máu làm nhòe tên Lạn. Tấm vải ghi nợ không lớn bằng thanh y, không sáng bằng Thiên Luật, nhưng nó thuộc về một phần đời cụ thể ở nhà thợ săn lúc trời bạc. Nếu hắn không học giữ tấm vải ghi nợ và những thứ cụ thể như vậy, hắn không có quyền hỏi dòng sâu về một người cũng từng sống cụ thể.
Có một nhịp sau bài kiểm tra tên cũ, hắn muốn bỏ hết để chạy thẳng lên nơi cao hơn: Phật Đài, Thành Hoàng, Thiên Đình, bất cứ đâu buộc phải trả lời tên Tô Vãn. Ý nghĩ đó vừa nổi đã mang mùi Sát Đạo lẫn thuốc nguội, ánh xám và ký ức bánh nếp: đi nhanh, đi thẳng, đi qua người cản đường. Hắn ép mình đứng thêm một nhịp nữa.
Nhịp đứng ấy không được ai thưởng. Chu Bình có lẽ sẽ chỉ ghi nó thành một dòng mơ hồ; Tề lão đạo có lẽ vẫn chê quá muộn. Tần Mạc không cần ai biến nó thành ý nghĩa. Hắn chỉ cần mình không quên rằng đã có một nhịp chưa để tay rơi xuống.
Chu Bình không cho Tần Mạc ngủ tiếp. Gã kéo tấm vải ghi nợ đặt giữa hai người, chỉ vào những chữ nhòe rồi bắt hắn đọc. Tần Mạc đọc được A Lạc, Trần thị, Tước Nhi, nhưng đến tên Lạn thì lưỡi mắc lại. Một âm rất nhỏ thôi, vậy mà căn nhà như lạnh đi. Người đã được thả về luân hồi không còn ở đây để tự sửa tên mình.
Gã đổi cách hỏi. Không hỏi đạo, không hỏi Tô Vãn, không hỏi dòng sâu. Gã hỏi lần đầu hai đứa trộm bánh ở bếp dưới là bánh gì. Tần Mạc tức vì câu hỏi ngớ ngẩn, rồi phát hiện trong đầu mình hiện ra đường rút hồn nhanh hơn hiện ra mùi bánh. Sợ hãi đến rất chậm, như nước thuốc nguội. Cuối cùng hắn nhớ: bánh nếp cháy cạnh, Chu Bình ăn phần nhiều rồi đổ tội cho mèo hoang.
Chu Bình cười một cái rất xấu, ho đến đỏ mắt. Gã bảo nhớ được chuyện mất mặt thì còn cứu được. Sau đó gã bắt Tần Mạc viết tên Lạn mười lần. Mỗi lần viết, đầu bút lại run khác nhau. Tề lão đạo đứng ngoài cửa chê chữ xấu, nhưng không bước vào phá. Có những lễ gọi hồn cần chuông mõ; có những lễ chỉ cần một kẻ sống chịu viết tên người khác cho đúng.
Tần Mạc nhận ra tấm vải không đủ nữa. Nó đã thấm máu, thấm mưa, thấm quá nhiều tên viết trong lúc chạy. Người bị nhớ không thể chen chúc mãi trên một mảnh vải như dân nghèo chen trước Công Đức Khố. Hắn cần một cuốn sổ, cần trang, cần thứ tự, cần cả trang trống cho chính mình nếu một ngày hắn cũng không còn nhận ra tên Tần Mạc.
Khi bước tiếp, hắn không thấy mình thắng. Hắn chỉ thấy từ nhà thợ săn lúc trời bạc tới sổ tên bên suối còn nhiều người không biết Tô Vãn là ai, không biết Trấn Hồn Đài đã nuốt nàng, không biết hắn vừa nuốt luật hay oán. Họ chỉ biết trời sáng hay mưa, tấm vải ghi nợ còn hay mất, người thân có thở qua đêm không. Câu hỏi của hắn phải đi qua thế gian ấy, không được nghiền nó dưới chân.