tinbc tinbc

Chương 137: Gương nói dối không được

Quảng trường khi Luân Hồi Giám lộ mặt không yên như tên gọi của nó. Mặt gương đen như nước giếng, tiếng chuông chìm dưới chân người xem. Ở quảng trường quanh Giám, Tần Mạc giữ thanh y ép dưới áo; Dấu Nghịch Thiên nóng lên theo mặt gương đen, nước gừng đổ và tiếng chuông chìm như một con dấu riêng của Giám hé Cấm Viện giữa dân đang đóng vào da hắn.

Tạ Vô Cữu cho Giám mở vừa đủ để gọi đó là minh chứng, không đủ để dân hiểu mình thấy gì. Cỗ máy ấy không cần ai gào chính nghĩa cho vang. Đệ tử vận trận cắn đầu lưỡi giữ hàng dây không đứt trước mắt dân; bên cạnh còn người bưng nước, người đóng dấu, người nhặt giấy rơi để khỏi bị phạt. Sự bình thường đó làm Tần Mạc khó chém hơn bất cứ tiếng mắng nào.

Ông Kha bán nước chỉ muốn kéo cháu mình ra khỏi đám đông nhưng chân bị người khác giẫm lên. Việc ấy nhỏ, nhưng nó có mùi, có tay, có người bị liên lụy nếu hỏng: đứa bé ôm bát nước gừng nóng đến đỏ cả tay. Tần Mạc nhìn đứa cháu của ông Kha trước khi nhìn thấy đại nghĩa; nhờ vậy Giám hé Cấm Viện giữa dân không lập tức bị hắn rút gọn thành một lưỡi kiếm.

Giám chiếu thoáng qua Cấm Viện, đèn hồn và phòng mổ hồn; Tần Mạc có thể ép nó mở thêm nhưng dân quanh đài sẽ bị cuốn ký ức. Lý trí nói hắn nên chọn đường nhanh nhất. Thân thể sau Cấm Viện lại nghe thấy một câu khác ngay giữa quảng trường quanh Giám: nuốt đi, phá đi, lấy nỗi sợ làm đường. Hắn phải cắn chặt răng để phân biệt việc cần làm cho ông Kha với cơn đói đang giả giọng đúng đắn.

Rồi có người làm sai theo cách rất người. Một nhịp hắn đã muốn mặc kệ quảng trường, vì chỉ cần mở thêm có lẽ sẽ thấy sâu hơn về Tô Vãn. Cái sai quanh ông Kha không làm người ta thành ác nhân, nhưng cũng không vì đáng thương mà tự biến mất. Nó nằm lại trong mặt gương đen, nước gừng đổ và tiếng chuông chìm, gai góc, bắt Tần Mạc hiểu người bị ép vẫn có thể làm đau người yếu hơn mình.

‘Ông ơi, trong gương có người không có mặt.’ Câu nói ấy không cứu được ai ngay lập tức. ‘Đừng nhìn, thổi nước đi, thổi đi.’ Nó chỉ làm vết xước giữa người với người hiện rõ hơn. Tần Mạc muốn đáp, rồi nhận ra trong Giám hé Cấm Viện giữa dân, mỗi lời của hắn đều có thể bị kéo thành chứng cho một bên khác.

Hắn nhớ Tô Vãn bằng một mẩu không giúp hắn thắng. Tô Vãn từng che mắt một đứa trẻ khỏi xác yêu thú rồi tự mình run rất lâu sau đó. Ký ức ấy không đứng làm cờ hiệu cho hắn ở quảng trường quanh Giám; nó kéo tay hắn xuống, nhắc rằng nàng từng khó chịu, từng có quyền riêng, từng không muốn bị dùng làm lý do đẹp đẽ cho máu của người khác.

Dân trong cảnh ấy không ngu. Họ tin vì Thái Huyền từng phát cháo thật, cứu dịch thật, sửa cầu qua vực thật; ở quảng trường quanh Giám, chính những việc thật ấy làm lời dối quanh Giám hé Cấm Viện có chỗ đứng trong bụng người nghe.

Tần Mạc hạ tay, không ép Giám mở sâu, chỉ giữ khe sáng đủ lâu để dân thấy đèn hồn bị treo số. Việc đó không làm hắn sạch. Nó chỉ khiến Giám hé Cấm Viện giữa dân bẩn theo cách hắn còn dám nhìn thẳng: không để người vô can quanh ông Kha trả giá thay cho cơn đau đang réo tên Tô Vãn trong xương.

Cái giá đến ngay trong chương này. Bóng thanh y ở đáy Giám lướt qua rồi mất, như phần thưởng hắn tự tay đóng lại. Từ sau Cấm Viện, sức mạnh không chỉ để lại vết thương ngoài da; ngay trước đứa cháu của ông Kha, nó dạy hắn nhìn người khác như đường tắt, như thuốc, như chứng cứ, rồi bắt hắn ghê sợ vì đã nhìn được như vậy.

Tống Nghiêm cũng có mặt trong vết nứt ấy. Nghe dân xôn xao chữ “đèn hồn” và biết không thể xóa hết bằng một nét bút. Sự có mặt ấy không biến quảng trường quanh Giám thành trắng đen; nó chỉ làm mọi thứ khó chịu hơn, vì ai cũng có một lý do nhỏ để chưa thể đứng hẳn về phía đúng.

Có những đoạn Tần Mạc làm người khác sợ thật. Không phải vì ma khí bốc lên, mà vì ngay cạnh ông Kha, mắt hắn tính quá nhanh một người sống có thể đổi thành bao nhiêu bước đi. Hắn thường dừng lại trước khi bàn tay khép xuống. Nhưng việc phải dừng đã chứng minh hắn không còn ở chỗ cũ.

Nơi chốn không đóng lại sau khi hắn đau xong. Ấm nước của ông Kha đổ nửa, gừng loang trên đá trắng giống một vệt máu nhạt. Sau khi chính đạo và ma khí va nhau ở quảng trường quanh Giám, vẫn còn người lau bậc đá, nhặt thuốc, sửa bánh xe, giữ con khỏi khóc hoặc vá lại phần đời bị Giám hé Cấm Viện giữa dân làm lệch.

Tần Mạc không được đứng ngoài sạch sẽ. Mỗi lần hắn muốn sửa sự thật của Giám hé Cấm Viện giữa dân bằng kiếm, hắn cũng muốn mượn nỗi sợ của người khác để mở đường. Phần người còn lại giữ tay hắn không phải vì hắn hiền, mà vì hắn sợ mình đang học quá nhanh cách biến ông Kha và những người giống vậy thành vật chứng cho nỗi đau riêng.

Thanh y dưới áo hắn im lặng. Giữa mặt gương đen, nước gừng đổ và tiếng chuông chìm, có lúc nó lạnh, có lúc nó sáng, nhưng chưa bao giờ trả lời theo cách người tuyệt vọng muốn nghe. Sự im lặng ấy giữ Tô Vãn khỏi bị gọi đâu tới đó; dù Thiên Luật Kiếm đang chờ phía trước, nàng vẫn đã vào luân hồi, không phải phần thưởng cho việc hắn chịu khổ đủ lâu.

Đại Thẩm không chỉ là một trận đánh. Riêng quảng trường quanh Giám, niềm tin còn có hình dạng rất chợ: nước gừng, ghế xem án, thẻ công đức, trẻ con được dặn đừng chen, người già mang áo mưa để sống qua Giám hé Cấm Viện.

Ở quảng trường quanh Giám, càng nhiều thứ mang vẻ sáng sạch hoặc từ bi, sự im lặng của người thấp càng nặng. Có người sợ mất đứa cháu của ông Kha, có người sợ mất chỗ cầu, có người chỉ muốn người thân thở qua đêm sau Giám hé Cấm Viện giữa dân. Chính sự sợ rất thật đó giúp những lời đẹp đứng vững.

Đến cuối cảnh, thứ còn lại là một dấu hiệu không chịu khép. Tạ Vô Cữu khép Giám bằng Thiên Luật, rút kiếm khỏi hộp ngọc trước khi lời dân kịp thành câu hỏi. Tần Mạc hiểu dấu hiệu dẫn tới Thiên Luật Kiếm không phải lối thoát, chỉ là cửa kế tiếp của cùng một câu hỏi: làm sao hỏi về Tô Vãn mà không nghiền nát những người chưa từng nợ hắn ở quảng trường quanh Giám?

Ông Kha kéo cháu sát vào người, miệng bảo đừng nhìn mà chính mình cứ nhìn mặt gương thêm một nhịp. Tần Mạc thấy điều đó và không biết nên đặt nó vào đâu trong ngực. Trước kia hắn có thể bỏ qua người ngoài quảng trường quanh Giám; bây giờ chỉ cần bỏ qua đứa cháu của ông Kha, cả Giám hé Cấm Viện đã có thể làm một cái tên trượt khỏi tay.

Hắn lấy tấm vải ghi tên ra. Có tên đứng yên dưới đầu bút, có tên run theo mặt gương đen, nước gừng đổ và tiếng chuông chìm, có tên vừa viết đã bị dư âm của Giám hé Cấm Viện làm nhòe. Hắn ghét cách giữ người vụng về đó, nhất là khi Thiên Luật Kiếm đang chờ; nhưng nếu bỏ nó, Sát Đạo sẽ cho hắn lối dễ hơn nhiều: nuốt, mạnh lên, rồi gọi khoảng trống sau Giám hé Cấm Viện là tất yếu.

Vì vậy hắn đi chậm hơn mình muốn. Chậm ở quảng trường quanh Giám không phải chiến thắng; nó chỉ là chưa để cái đói trong ngực quyết định thay ông Kha và những người đứng cạnh. Phía trước là Thiên Luật Kiếm, phía sau là những người còn phải sống với lời hắn không kịp sửa.

Điều níu hắn lại không phải một chân lý, mà là nước gừng đổ và mặt gương đen. Nó làm cảnh này không thể bị rút gọn thành thắng hay thua. Người trên cao đã quen rút người thấp thành mục, số, vật chứng, công đức; nếu hắn cũng rút gọn ông Kha trong Giám hé Cấm Viện, hắn chỉ thay màu mực đỏ bằng ma khí đen.

Một người đi ngang nhặt đứa cháu hoặc thứ còn sót của nó, tránh nhìn thẳng vào Tần Mạc. Cử chỉ ấy nhỏ nhưng có thật. Nó nói rằng người ta chưa biết nên gọi hắn là ân nhân hay tai họa. Tần Mạc không ép người ở quảng trường quanh Giám chọn, vì chính hắn cũng chưa tự chọn xong mình là gì sau khi nuốt oán đạo, luật, và đi qua Giám hé Cấm Viện.

Chu Bình từng giữ hắn lại bằng một câu rất đời: khàn giọng bảo hắn nhìn người dưới đài trước khi nhìn dòng sâu. Câu giữ hắn lại ở quảng trường quanh Giám không cao minh, cũng không đủ đẹp để khắc lên bia, nhưng nó làm nhát tiếp theo của hắn chậm hơn trước đứa cháu của ông Kha. Đôi khi một nhát chậm là toàn bộ phần người còn lại.

Nếu Tô Vãn đứng ở đây, có lẽ nàng sẽ không khen hắn. Nghĩ vậy khiến hắn dễ thở hơn một chút. Một Tô Vãn có thể mắng hắn vì Giám hé Cấm Viện, có thể cau mày trước đứa cháu của ông Kha, vẫn là người trong ký ức; không phải tượng ngọc đặt cuối đường để hắn dâng chiến công.

Khi hắn rời hoặc đứng lại, ông Kha bán nước vẫn còn việc chưa xong: kéo cháu mình ra khỏi đám đông nhưng chân bị người khác giẫm lên. Người khác quanh quảng trường quanh Giám còn thuốc, lời khai, chỗ đứng, xe bệnh, tiền hương, hoặc chính đứa cháu của ông Kha phải giữ qua đêm. Hắn không thể mang hết họ từ quảng trường quanh Giám tới Thiên Luật Kiếm, và việc không thể ấy nặng hơn rất nhiều lời thề lớn.

Dấu Nghịch Thiên nóng lên rồi lặng xuống. Nó không cho hắn sức mạnh miễn phí. Nó chỉ nhắc rằng mỗi lần hắn chọn đường ngắn qua Giám hé Cấm Viện, trên da sẽ thêm một nét để người khác ở quảng trường quanh Giám đọc thành ma. Hắn kéo tay áo che dấu ấy, không phải vì sợ trời, mà vì ông Kha hoặc người gần nhất với đứa cháu của ông Kha vừa lùi nửa bước.

Bên cạnh nước gừng đổ và mặt gương đen, Tần Mạc nghe người ta nói về hắn bằng giọng đã được mài sẵn. Có người thêm, có người bớt, có người lặp lại để khỏi bị nghi mềm lòng. Hắn từng nghĩ lời dối trong Giám hé Cấm Viện đáng ghét vì sai; giờ hắn biết nó còn đáng sợ vì giúp người nghe ở quảng trường quanh Giám đỡ phải chọn.

Ông Kha bán nước không nhìn hắn như một vị cứu tinh. Cái nhìn ấy có sợ, có oán, có một chút muốn hỏi mà không dám. Tần Mạc giữ cái nhìn của ông Kha lại trong trí nhớ, vì người được cứu cùng đứa cháu của ông Kha không có bổn phận phải làm hắn thấy mình còn tốt.

Đứa cháu trở thành vật neo của chương này: đứa bé ôm bát nước gừng nóng đến đỏ cả tay. Đứa cháu của ông Kha không lớn bằng thanh y, không sáng bằng Thiên Luật, nhưng nó thuộc về một phần đời cụ thể ở quảng trường quanh Giám. Nếu hắn không học giữ đứa cháu của ông Kha và những thứ cụ thể như vậy, hắn không có quyền hỏi dòng sâu về một người cũng từng sống cụ thể.

Có một nhịp sau Giám hé Cấm Viện, hắn muốn bỏ hết để chạy thẳng lên nơi cao hơn: Phật Đài, Thành Hoàng, Thiên Đình, bất cứ đâu buộc phải trả lời tên Tô Vãn. Ý nghĩ đó vừa nổi đã mang mùi Sát Đạo lẫn mặt gương đen, nước gừng đổ và tiếng chuông chìm: đi nhanh, đi thẳng, đi qua người cản đường. Hắn ép mình đứng thêm một nhịp nữa.

Nhịp đứng ấy không được ai thưởng. Tống Nghiêm có lẽ sẽ chỉ ghi nó thành một dòng mơ hồ; Chu Bình có lẽ vẫn chê quá muộn. Tần Mạc không cần ai biến nó thành ý nghĩa. Hắn chỉ cần mình không quên rằng đã có một nhịp chưa để tay rơi xuống.

Mặt Giám mở ra như một cái giếng nằm ngang. Người đứng gần đài ngửi thấy mùi nước lâu ngày bị đậy kín, lạnh và có chút tanh. Tạ Vô Cữu nói đó là ánh sáng minh chứng, nhưng ánh sáng ấy không sáng; nó kéo mắt người xuống. Ông Kha ôm cháu vào bụng, bảo đừng nhìn. Đứa bé vẫn nhìn qua khe tay vì trong gương có những ngọn đèn không mang tên.

Cấm Viện hiện lên không trọn vẹn. Một hành lang, một bàn mổ hồn, vài đèn số, một bàn tay trẻ con đổ dầu công đức. Dân chúng không hiểu hết, nhưng họ hiểu tiếng người bị bịt miệng khi một cái bóng trong Giám đập vào mặt nước. Tiếng xì xào đổi màu. Nó không còn là tò mò xem ma, mà là nỗi sợ rằng thứ sạch họ từng tin có tầng hầm.

Tần Mạc có thể ép Giám mở sâu hơn. Sợi thanh y lạnh đến mức xương ngón tay hắn tê đi, như ở đáy nước có ai vừa quay lưng. Chỉ cần thêm một nhịp, có thể hắn sẽ thấy. Nhưng hàng ghế dân đã bắt đầu lảo đảo; một người phụ nữ ôm đầu kêu tên người chết nhà mình. Tần Mạc hạ tay. Bóng kia mất. Hắn tự cắt mất một cơ hội và không ai dưới đài biết để cảm ơn.

Tạ Vô Cữu chờ đúng lúc ấy mới khép Giám. Hắn không che vết nứt; hắn để dân thấy vừa đủ hỗn loạn rồi bảo đó là hậu quả ma tu nhiễu pháp khí. Cách nói ấy trơn tru đến mức vài người vừa nghi đã hoang mang. Ông Kha nhìn ấm nước đổ dưới chân, nước gừng chảy qua khe đá như một dòng chứng nhỏ không ai nhặt.

Khi bước tiếp, hắn không thấy mình thắng. Hắn chỉ thấy từ quảng trường quanh Giám tới Thiên Luật Kiếm còn nhiều người không biết Tô Vãn là ai, không biết Trấn Hồn Đài đã nuốt nàng, không biết hắn vừa nuốt luật hay oán. Họ chỉ biết trời sáng hay mưa, đứa cháu của ông Kha còn hay mất, người thân có thở qua đêm không. Câu hỏi của hắn phải đi qua thế gian ấy, không được nghiền nó dưới chân.