Chương 135: Đại Thẩm
Quảng trường Thiên Luật không yên như tên gọi của nó. Bậc đá rửa sạch đến phát lạnh, nước gừng bốc khói và tiếng ghế gỗ kéo lạo xạo. Ở quảng trường Thiên Luật, Tần Mạc giữ thanh y ép dưới áo; Dấu Nghịch Thiên nóng lên theo nước gừng, bậc đá lạnh và ghế gỗ như một con dấu riêng của Đại Thẩm đã mở màn bằng vật chứng giả đang đóng vào da hắn.
Tạ Vô Cữu dựng phiên thẩm như một bài học công khai cho dân chúng. Cỗ máy ấy không cần ai gào chính nghĩa cho vang. Đệ tử giữ trật tự phát thẻ đứng theo từng hàng công đức; bên cạnh còn người bưng nước, người đóng dấu, người nhặt giấy rơi để khỏi bị phạt. Sự bình thường đó làm Tần Mạc khó chém hơn bất cứ tiếng mắng nào.
Ông lão bán nước họ Kha chỉ muốn bán hết ấm nước gừng vì đã nộp phí chỗ đứng cho Công Đức Khố. Việc ấy nhỏ, nhưng nó có mùi, có tay, có người bị liên lụy nếu hỏng: ấm đồng móp miệng, nắp buộc dây gai vì sợ mất. Tần Mạc nhìn ấm nước gừng trước khi nhìn thấy đại nghĩa; nhờ vậy Đại Thẩm đã mở màn bằng vật chứng giả không lập tức bị hắn rút gọn thành một lưỡi kiếm.
Tạ đọc án sạch, đưa nhân chứng ngược lên trước, rồi gọi một mảnh thanh y giả là vật chứng Tô Vãn bị ma tu hại. Lý trí nói hắn nên chọn đường nhanh nhất. Thân thể sau Cấm Viện lại nghe thấy một câu khác ngay giữa quảng trường Thiên Luật: nuốt đi, phá đi, lấy nỗi sợ làm đường. Hắn phải cắn chặt răng để phân biệt việc cần làm cho ông Kha với cơn đói đang giả giọng đúng đắn.
Rồi có người làm sai theo cách rất người. Ông Kha chửi ma theo đám đông dù mắt cứ liếc mảnh vải giả như thấy có gì không khớp. Cái sai quanh ông Kha không làm người ta thành ác nhân, nhưng cũng không vì đáng thương mà tự biến mất. Nó nằm lại trong nước gừng, bậc đá lạnh và ghế gỗ, gai góc, bắt Tần Mạc hiểu người bị ép vẫn có thể làm đau người yếu hơn mình.
‘Nếu hắn là ma, sao cô nương kia lại bị đem ra như cái khăn lau án?.’ Câu nói ấy không cứu được ai ngay lập tức. ‘Ông nói nhỏ thôi, nước còn chưa bán hết.’ Nó chỉ làm vết xước giữa người với người hiện rõ hơn. Tần Mạc muốn đáp, rồi nhận ra trong Đại Thẩm đã mở màn bằng vật chứng giả, mỗi lời của hắn đều có thể bị kéo thành chứng cho một bên khác.
Hắn nhớ Tô Vãn bằng một mẩu không giúp hắn thắng. Tô Vãn từng cười nhạt khi ai gọi nàng là thánh nữ; nàng bảo danh xưng càng sạch càng dễ che bụi trên tay người đặt tên. Ký ức ấy không đứng làm cờ hiệu cho hắn ở quảng trường Thiên Luật; nó kéo tay hắn xuống, nhắc rằng nàng từng khó chịu, từng có quyền riêng, từng không muốn bị dùng làm lý do đẹp đẽ cho máu của người khác.
Dân trong cảnh ấy không ngu. Họ tin vì Thái Huyền từng phát cháo thật, cứu dịch thật, sửa cầu qua vực thật; ở quảng trường Thiên Luật, chính những việc thật ấy làm lời dối quanh Đại Thẩm mở màn có chỗ đứng trong bụng người nghe.
Tần Mạc chen trong đám đông, nghe tên nàng bị đọc lên như một mục án và ép mình chưa xuất hiện. Việc đó không làm hắn sạch. Nó chỉ khiến Đại Thẩm đã mở màn bằng vật chứng giả bẩn theo cách hắn còn dám nhìn thẳng: không để người vô can quanh ông Kha trả giá thay cho cơn đau đang réo tên Tô Vãn trong xương.
Cái giá đến ngay trong chương này. Dấu Nghịch Thiên nóng đến mức lớp áo trong dính vào da, nhưng hắn càng đau càng không được quyền làm loạn giữa dân. Từ sau Cấm Viện, sức mạnh không chỉ để lại vết thương ngoài da; ngay trước ấm nước gừng, nó dạy hắn nhìn người khác như đường tắt, như thuốc, như chứng cứ, rồi bắt hắn ghê sợ vì đã nhìn được như vậy.
Tống Nghiêm cũng có mặt trong vết nứt ấy. Đứng bên cột án, nhìn mảnh thanh y giả lâu hơn một nhịp rồi mới đọc tiếp. Sự có mặt ấy không biến quảng trường Thiên Luật thành trắng đen; nó chỉ làm mọi thứ khó chịu hơn, vì ai cũng có một lý do nhỏ để chưa thể đứng hẳn về phía đúng.
Có những đoạn Tần Mạc làm người khác sợ thật. Không phải vì ma khí bốc lên, mà vì ngay cạnh ông Kha, mắt hắn tính quá nhanh một người sống có thể đổi thành bao nhiêu bước đi. Hắn thường dừng lại trước khi bàn tay khép xuống. Nhưng việc phải dừng đã chứng minh hắn không còn ở chỗ cũ.
Nơi chốn không đóng lại sau khi hắn đau xong. Ghế xem án kín chỗ, mấy đứa trẻ được người lớn dặn nếu thấy ma thì phải nhắm mắt cầu luật. Sau khi chính đạo và ma khí va nhau ở quảng trường Thiên Luật, vẫn còn người lau bậc đá, nhặt thuốc, sửa bánh xe, giữ con khỏi khóc hoặc vá lại phần đời bị Đại Thẩm đã mở màn bằng vật chứng giả làm lệch.
Tần Mạc không được đứng ngoài sạch sẽ. Mỗi lần hắn muốn sửa sự thật của Đại Thẩm đã mở màn bằng vật chứng giả bằng kiếm, hắn cũng muốn mượn nỗi sợ của người khác để mở đường. Phần người còn lại giữ tay hắn không phải vì hắn hiền, mà vì hắn sợ mình đang học quá nhanh cách biến ông Kha và những người giống vậy thành vật chứng cho nỗi đau riêng.
Thanh y dưới áo hắn im lặng. Giữa nước gừng, bậc đá lạnh và ghế gỗ, có lúc nó lạnh, có lúc nó sáng, nhưng chưa bao giờ trả lời theo cách người tuyệt vọng muốn nghe. Sự im lặng ấy giữ Tô Vãn khỏi bị gọi đâu tới đó; dù mảnh thanh y thật đang chờ phía trước, nàng vẫn đã vào luân hồi, không phải phần thưởng cho việc hắn chịu khổ đủ lâu.
Đại Thẩm không chỉ là một trận đánh. Riêng quảng trường Thiên Luật, niềm tin còn có hình dạng rất chợ: nước gừng, ghế xem án, thẻ công đức, trẻ con được dặn đừng chen, người già mang áo mưa để sống qua Đại Thẩm mở màn.
Ở quảng trường Thiên Luật, càng nhiều thứ mang vẻ sáng sạch hoặc từ bi, sự im lặng của người thấp càng nặng. Có người sợ mất ấm nước gừng, có người sợ mất chỗ cầu, có người chỉ muốn người thân thở qua đêm sau Đại Thẩm đã mở màn bằng vật chứng giả. Chính sự sợ rất thật đó giúp những lời đẹp đứng vững.
Đến cuối cảnh, thứ còn lại là một dấu hiệu không chịu khép. Khi Tạ Vô Cữu nâng vật chứng giả lên, thanh y thật dưới áo Tần Mạc lạnh buốt. Tần Mạc hiểu dấu hiệu dẫn tới mảnh thanh y thật không phải lối thoát, chỉ là cửa kế tiếp của cùng một câu hỏi: làm sao hỏi về Tô Vãn mà không nghiền nát những người chưa từng nợ hắn ở quảng trường Thiên Luật?
Ông lão bán nước lẫn vào đám đông rất nhanh, nhưng cái ấm móp của ông cứ va vào chân ghế như tiếng hỏi nhỏ. Tần Mạc thấy điều đó và không biết nên đặt nó vào đâu trong ngực. Trước kia hắn có thể bỏ qua người ngoài quảng trường Thiên Luật; bây giờ chỉ cần bỏ qua ấm nước gừng, cả Đại Thẩm mở màn đã có thể làm một cái tên trượt khỏi tay.
Hắn lấy tấm vải ghi tên ra. Có tên đứng yên dưới đầu bút, có tên run theo nước gừng, bậc đá lạnh và ghế gỗ, có tên vừa viết đã bị dư âm của Đại Thẩm mở màn làm nhòe. Hắn ghét cách giữ người vụng về đó, nhất là khi mảnh thanh y thật đang chờ; nhưng nếu bỏ nó, Sát Đạo sẽ cho hắn lối dễ hơn nhiều: nuốt, mạnh lên, rồi gọi khoảng trống sau Đại Thẩm mở màn là tất yếu.
Vì vậy hắn đi chậm hơn mình muốn. Chậm ở quảng trường Thiên Luật không phải chiến thắng; nó chỉ là chưa để cái đói trong ngực quyết định thay ông Kha và những người đứng cạnh. Phía trước là vật chứng thật, phía sau là những người còn phải sống với lời hắn không kịp sửa.
Điều níu hắn lại không phải một chân lý, mà là mùi nước gừng và đá rửa sạch. Nó làm cảnh này không thể bị rút gọn thành thắng hay thua. Người trên cao đã quen rút người thấp thành mục, số, vật chứng, công đức; nếu hắn cũng rút gọn ông Kha trong Đại Thẩm mở màn, hắn chỉ thay màu mực đỏ bằng ma khí đen.
Một người đi ngang nhặt ấm nước gừng hoặc thứ còn sót của nó, tránh nhìn thẳng vào Tần Mạc. Cử chỉ ấy nhỏ nhưng có thật. Nó nói rằng người ta chưa biết nên gọi hắn là ân nhân hay tai họa. Tần Mạc không ép người ở quảng trường Thiên Luật chọn, vì chính hắn cũng chưa tự chọn xong mình là gì sau khi nuốt oán đạo, luật, và đi qua Đại Thẩm mở màn.
Chu Bình từng giữ hắn lại bằng một câu rất đời: bóp cổ tay hắn dưới áo choàng, không cho hắn lao ra khi dân còn đứng sát đài. Câu giữ hắn lại ở quảng trường Thiên Luật không cao minh, cũng không đủ đẹp để khắc lên bia, nhưng nó làm nhát tiếp theo của hắn chậm hơn trước ấm nước gừng. Đôi khi một nhát chậm là toàn bộ phần người còn lại.
Nếu Tô Vãn đứng ở đây, có lẽ nàng sẽ không khen hắn. Nghĩ vậy khiến hắn dễ thở hơn một chút. Một Tô Vãn có thể mắng hắn vì Đại Thẩm mở màn, có thể cau mày trước ấm nước gừng, vẫn là người trong ký ức; không phải tượng ngọc đặt cuối đường để hắn dâng chiến công.
Khi hắn rời hoặc đứng lại, ông lão bán nước họ Kha vẫn còn việc chưa xong: bán hết ấm nước gừng vì đã nộp phí chỗ đứng cho Công Đức Khố. Người khác quanh quảng trường Thiên Luật còn thuốc, lời khai, chỗ đứng, xe bệnh, tiền hương, hoặc chính ấm nước gừng phải giữ qua đêm. Hắn không thể mang hết họ từ quảng trường Thiên Luật tới mảnh thanh y thật, và việc không thể ấy nặng hơn rất nhiều lời thề lớn.
Dấu Nghịch Thiên nóng lên rồi lặng xuống. Nó không cho hắn sức mạnh miễn phí. Nó chỉ nhắc rằng mỗi lần hắn chọn đường ngắn qua Đại Thẩm mở màn, trên da sẽ thêm một nét để người khác ở quảng trường Thiên Luật đọc thành ma. Hắn kéo tay áo che dấu ấy, không phải vì sợ trời, mà vì ông Kha hoặc người gần nhất với ấm nước gừng vừa lùi nửa bước.
Bên cạnh mùi nước gừng và đá rửa sạch, Tần Mạc nghe người ta nói về hắn bằng giọng đã được mài sẵn. Có người thêm, có người bớt, có người lặp lại để khỏi bị nghi mềm lòng. Hắn từng nghĩ lời dối trong Đại Thẩm mở màn đáng ghét vì sai; giờ hắn biết nó còn đáng sợ vì giúp người nghe ở quảng trường Thiên Luật đỡ phải chọn.
Ông lão bán nước họ Kha không nhìn hắn như một vị cứu tinh. Cái nhìn ấy có sợ, có oán, có một chút muốn hỏi mà không dám. Tần Mạc giữ cái nhìn của ông Kha lại trong trí nhớ, vì người được cứu cùng ấm nước gừng không có bổn phận phải làm hắn thấy mình còn tốt.
Ấm nước gừng trở thành vật neo của chương này: ấm đồng móp miệng, nắp buộc dây gai vì sợ mất. Ấm nước gừng không lớn bằng thanh y, không sáng bằng Thiên Luật, nhưng nó thuộc về một phần đời cụ thể ở quảng trường Thiên Luật. Nếu hắn không học giữ ấm nước gừng và những thứ cụ thể như vậy, hắn không có quyền hỏi dòng sâu về một người cũng từng sống cụ thể.
Có một nhịp sau Đại Thẩm mở màn, hắn muốn bỏ hết để chạy thẳng lên nơi cao hơn: Phật Đài, Thành Hoàng, Thiên Đình, bất cứ đâu buộc phải trả lời tên Tô Vãn. Ý nghĩ đó vừa nổi đã mang mùi Sát Đạo lẫn nước gừng, bậc đá lạnh và ghế gỗ: đi nhanh, đi thẳng, đi qua người cản đường. Hắn ép mình đứng thêm một nhịp nữa.
Nhịp đứng ấy không được ai thưởng. Tống Nghiêm có lẽ sẽ chỉ ghi nó thành một dòng mơ hồ; Chu Bình có lẽ vẫn chê quá muộn. Tần Mạc không cần ai biến nó thành ý nghĩa. Hắn chỉ cần mình không quên rằng đã có một nhịp chưa để tay rơi xuống.
Ông Kha đặt ấm nước ở mép quảng trường từ lúc trời chưa sáng. Chỗ đứng ấy phải nộp phí, đổi lại được quyền bán cho người xem án ở hàng ngoài. Ông lau miệng ấm bằng khăn đã sờn, miệng chửi ma tu theo mấy người bên cạnh cho đỡ bị để ý. Nhưng khi đệ tử dựng hòm vật chứng, ông lại nhón chân nhìn như người từng thấy quá nhiều trò đổi hàng ở chợ.
Tạ Vô Cữu không cần hét. Giọng hắn đi qua trận âm, đều và sạch: Tần Mạc hại thánh nữ, nhiễu Giám, ép dân, phá luật. Sau mỗi tội danh, một người dân từng được cứu bị dẫn lên đọc lời chứng ngược. Có người đọc trơn, có người vấp. Chấp sự chỉ sửa những chữ vấp, không sửa bàn tay run. Sự tử tế đúng mực ấy khiến quảng trường càng lạnh.
Khi mảnh thanh y giả được nâng lên, vài người cúi lạy. Họ không biết Tô Vãn, chỉ biết một cô nương chết trong lời kể của tông môn sạch. Ông Kha nghiêng đầu, lẩm bẩm với đứa cháu rằng vải thật bị máu ăn thì mép không sáng thế. Đứa cháu hỏi sao ông biết. Ông bảo hồi trẻ từng giặt áo lính thuê, rồi lập tức im vì lính và thánh nữ không nên nằm chung trong một câu.
Tần Mạc nghe tên Tô Vãn bị kéo qua từng miệng người lạ. Có lúc hắn muốn để cả quảng trường thấy máu thật bằng cách xé áo mình. Chu Bình dưới áo choàng nắm cổ tay hắn, móng tay bấm vào thịt. Không phải bây giờ. Người còn đứng sát đài. Một câu nhắc nhỏ hơn đại nghĩa, nhưng giữ được hàng trăm người khỏi thành khiên.
Khi bước tiếp, hắn không thấy mình thắng. Hắn chỉ thấy từ quảng trường Thiên Luật tới mảnh thanh y thật còn nhiều người không biết Tô Vãn là ai, không biết Trấn Hồn Đài đã nuốt nàng, không biết hắn vừa nuốt luật hay oán. Họ chỉ biết trời sáng hay mưa, ấm nước gừng còn hay mất, người thân có thở qua đêm không. Câu hỏi của hắn phải đi qua thế gian ấy, không được nghiền nó dưới chân.