Chương 131: Chiếu thảo ma
Trấn Bạch Thạch dưới chân Thái Huyền không yên như tên gọi của nó. Giấy cáo thị còn ướt hồ, mùi cháo phát sáng sớm và mực đỏ bám trên móng tay người dán bảng. Ở Trấn Bạch Thạch, Tần Mạc giữ thanh y ép dưới áo; Dấu Nghịch Thiên nóng lên theo hồ dán, cháo khê và mực đỏ như một con dấu riêng của chiếu thảo ma vừa được dán lên bảng trấn đang đóng vào da hắn.
Hình Đường sai đệ tử đi từng trấn đọc chiếu thảo ma. Cỗ máy ấy không cần ai gào chính nghĩa cho vang. Một đệ tử trẻ phải vừa đọc án vừa giữ thang cho người dán cáo thị; bên cạnh còn người bưng nước, người đóng dấu, người nhặt giấy rơi để khỏi bị phạt. Sự bình thường đó làm Tần Mạc khó chém hơn bất cứ tiếng mắng nào.
A Lạc chỉ muốn giữ A Mộc khỏi mấy đứa trẻ chen tới xem tranh truy nã. Việc ấy nhỏ, nhưng nó có mùi, có tay, có người bị liên lụy nếu hỏng: con búp bê cũ bị tuột một sợi chỉ đỏ ở cổ tay. Tần Mạc nhìn A Mộc trước khi nhìn thấy đại nghĩa; nhờ vậy chiếu thảo ma vừa được dán lên bảng trấn không lập tức bị hắn rút gọn thành một lưỡi kiếm.
A Lạc nhận ra người trong tranh là ca ca từng cắt dây cứu mình, còn Trần thị phải kéo con lùi khỏi mắt người ghi đơn. Lý trí nói hắn nên chọn đường nhanh nhất. Thân thể sau Cấm Viện lại nghe thấy một câu khác ngay giữa Trấn Bạch Thạch: nuốt đi, phá đi, lấy nỗi sợ làm đường. Hắn phải cắn chặt răng để phân biệt việc cần làm cho A Lạc với cơn đói đang giả giọng đúng đắn.
Rồi có người làm sai theo cách rất người. Trần thị bịt miệng con hơi mạnh, mạnh đến mức đứa trẻ nghẹn một tiếng rồi thôi khóc vì sợ mẹ cũng bị ghi tên. Cái sai quanh A Lạc không làm người ta thành ác nhân, nhưng cũng không vì đáng thương mà tự biến mất. Nó nằm lại trong hồ dán, cháo khê và mực đỏ, gai góc, bắt Tần Mạc hiểu người bị ép vẫn có thể làm đau người yếu hơn mình.
‘Mẹ, tranh vẽ sai rồi.’ Câu nói ấy không cứu được ai ngay lập tức. ‘Nhìn xuống đất. Đừng để người ta biết nhà mình nhớ hắn.’ Nó chỉ làm vết xước giữa người với người hiện rõ hơn. Tần Mạc muốn đáp, rồi nhận ra trong chiếu thảo ma vừa được dán lên bảng trấn, mỗi lời của hắn đều có thể bị kéo thành chứng cho một bên khác.
Hắn nhớ Tô Vãn bằng một mẩu không giúp hắn thắng. Tô Vãn từng ghét tranh chân dung trong tông vì họ vẽ nàng như vật thờ, mắt quá hiền và tay không có vết kim. Ký ức ấy không đứng làm cờ hiệu cho hắn ở Trấn Bạch Thạch; nó kéo tay hắn xuống, nhắc rằng nàng từng khó chịu, từng có quyền riêng, từng không muốn bị dùng làm lý do đẹp đẽ cho máu của người khác.
Dân trong cảnh ấy không ngu. Họ tin vì Thái Huyền từng phát cháo thật, cứu dịch thật, sửa cầu qua vực thật; ở Trấn Bạch Thạch, chính những việc thật ấy làm lời dối quanh chiếu thảo ma có chỗ đứng trong bụng người nghe.
Tần Mạc đứng trên mái quán trà nghe hết bài chiếu, tay đã đặt lên chuôi kiếm rồi lại buông. Việc đó không làm hắn sạch. Nó chỉ khiến chiếu thảo ma vừa được dán lên bảng trấn bẩn theo cách hắn còn dám nhìn thẳng: không để người vô can quanh A Lạc trả giá thay cho cơn đau đang réo tên Tô Vãn trong xương.
Cái giá đến ngay trong chương này. Tên A Lạc và tên A Mộc lẫn vào nhau một nhịp trong đầu hắn. Từ sau Cấm Viện, sức mạnh không chỉ để lại vết thương ngoài da; ngay trước A Mộc, nó dạy hắn nhìn người khác như đường tắt, như thuốc, như chứng cứ, rồi bắt hắn ghê sợ vì đã nhìn được như vậy.
Tống Nghiêm cũng có mặt trong vết nứt ấy. Dừng bút ở dòng “dân tự nguyện tố ma”, nhìn chấm mực loang rồi vẫn viết tiếp. Sự có mặt ấy không biến Trấn Bạch Thạch thành trắng đen; nó chỉ làm mọi thứ khó chịu hơn, vì ai cũng có một lý do nhỏ để chưa thể đứng hẳn về phía đúng.
Có những đoạn Tần Mạc làm người khác sợ thật. Không phải vì ma khí bốc lên, mà vì ngay cạnh A Lạc, mắt hắn tính quá nhanh một người sống có thể đổi thành bao nhiêu bước đi. Hắn thường dừng lại trước khi bàn tay khép xuống. Nhưng việc phải dừng đã chứng minh hắn không còn ở chỗ cũ.
Nơi chốn không đóng lại sau khi hắn đau xong. Người bán cháo phải cạo lớp hồ rơi vào nồi trước khi dám múc cho trẻ con. Sau khi chính đạo và ma khí va nhau ở Trấn Bạch Thạch, vẫn còn người lau bậc đá, nhặt thuốc, sửa bánh xe, giữ con khỏi khóc hoặc vá lại phần đời bị chiếu thảo ma vừa được dán lên bảng trấn làm lệch.
Tần Mạc không được đứng ngoài sạch sẽ. Mỗi lần hắn muốn sửa sự thật của chiếu thảo ma vừa được dán lên bảng trấn bằng kiếm, hắn cũng muốn mượn nỗi sợ của người khác để mở đường. Phần người còn lại giữ tay hắn không phải vì hắn hiền, mà vì hắn sợ mình đang học quá nhanh cách biến A Lạc và những người giống vậy thành vật chứng cho nỗi đau riêng.
Thanh y dưới áo hắn im lặng. Giữa hồ dán, cháo khê và mực đỏ, có lúc nó lạnh, có lúc nó sáng, nhưng chưa bao giờ trả lời theo cách người tuyệt vọng muốn nghe. Sự im lặng ấy giữ Tô Vãn khỏi bị gọi đâu tới đó; dù điện thẩm vấn phụ đang chờ phía trước, nàng vẫn đã vào luân hồi, không phải phần thưởng cho việc hắn chịu khổ đủ lâu.
Đại Thẩm không chỉ là một trận đánh. Riêng Trấn Bạch Thạch, niềm tin còn có hình dạng rất chợ: nước gừng, ghế xem án, thẻ công đức, trẻ con được dặn đừng chen, người già mang áo mưa để sống qua chiếu thảo ma.
Ở Trấn Bạch Thạch, càng nhiều thứ mang vẻ sáng sạch hoặc từ bi, sự im lặng của người thấp càng nặng. Có người sợ mất A Mộc, có người sợ mất chỗ cầu, có người chỉ muốn người thân thở qua đêm sau chiếu thảo ma vừa được dán lên bảng trấn. Chính sự sợ rất thật đó giúp những lời đẹp đứng vững.
Đến cuối cảnh, thứ còn lại là một dấu hiệu không chịu khép. Cuối buổi đọc chiếu, Hình Đường bắt những người từng được hắn cứu tới Thiên Luật Điện làm chứng ngược. Tần Mạc hiểu dấu hiệu dẫn tới điện thẩm vấn phụ không phải lối thoát, chỉ là cửa kế tiếp của cùng một câu hỏi: làm sao hỏi về Tô Vãn mà không nghiền nát những người chưa từng nợ hắn ở Trấn Bạch Thạch?
Đứa trẻ không chạy tới ôm hắn. Nó chỉ giấu búp bê ra sau lưng, vừa muốn hỏi vừa sợ mẹ khóc thêm. Tần Mạc thấy điều đó và không biết nên đặt nó vào đâu trong ngực. Trước kia hắn có thể bỏ qua người ngoài Trấn Bạch Thạch; bây giờ chỉ cần bỏ qua A Mộc, cả chiếu thảo ma đã có thể làm một cái tên trượt khỏi tay.
Hắn lấy tấm vải ghi tên ra. Có tên đứng yên dưới đầu bút, có tên run theo hồ dán, cháo khê và mực đỏ, có tên vừa viết đã bị dư âm của chiếu thảo ma làm nhòe. Hắn ghét cách giữ người vụng về đó, nhất là khi điện thẩm vấn phụ đang chờ; nhưng nếu bỏ nó, Sát Đạo sẽ cho hắn lối dễ hơn nhiều: nuốt, mạnh lên, rồi gọi khoảng trống sau chiếu thảo ma là tất yếu.
Vì vậy hắn đi chậm hơn mình muốn. Chậm ở Trấn Bạch Thạch không phải chiến thắng; nó chỉ là chưa để cái đói trong ngực quyết định thay A Lạc và những người đứng cạnh. Phía trước là điện thẩm vấn phụ, phía sau là những người còn phải sống với lời hắn không kịp sửa.
Điều níu hắn lại không phải một chân lý, mà là mùi hồ dán và cháo khê. Nó làm cảnh này không thể bị rút gọn thành thắng hay thua. Người trên cao đã quen rút người thấp thành mục, số, vật chứng, công đức; nếu hắn cũng rút gọn A Lạc trong chiếu thảo ma, hắn chỉ thay màu mực đỏ bằng ma khí đen.
Một người đi ngang nhặt A Mộc hoặc thứ còn sót của nó, tránh nhìn thẳng vào Tần Mạc. Cử chỉ ấy nhỏ nhưng có thật. Nó nói rằng người ta chưa biết nên gọi hắn là ân nhân hay tai họa. Tần Mạc không ép người ở Trấn Bạch Thạch chọn, vì chính hắn cũng chưa tự chọn xong mình là gì sau khi nuốt oán đạo, luật, và đi qua chiếu thảo ma.
Chu Bình từng giữ hắn lại bằng một câu rất đời: nếu còn tỉnh hẳn sẽ mắng hắn đừng lấy trẻ con làm cớ nổi điên. Câu giữ hắn lại ở Trấn Bạch Thạch không cao minh, cũng không đủ đẹp để khắc lên bia, nhưng nó làm nhát tiếp theo của hắn chậm hơn trước A Mộc. Đôi khi một nhát chậm là toàn bộ phần người còn lại.
Nếu Tô Vãn đứng ở đây, có lẽ nàng sẽ không khen hắn. Nghĩ vậy khiến hắn dễ thở hơn một chút. Một Tô Vãn có thể mắng hắn vì chiếu thảo ma, có thể cau mày trước A Mộc, vẫn là người trong ký ức; không phải tượng ngọc đặt cuối đường để hắn dâng chiến công.
Khi hắn rời hoặc đứng lại, A Lạc vẫn còn việc chưa xong: giữ A Mộc khỏi mấy đứa trẻ chen tới xem tranh truy nã. Người khác quanh Trấn Bạch Thạch còn thuốc, lời khai, chỗ đứng, xe bệnh, tiền hương, hoặc chính A Mộc phải giữ qua đêm. Hắn không thể mang hết họ từ Trấn Bạch Thạch tới điện thẩm vấn phụ, và việc không thể ấy nặng hơn rất nhiều lời thề lớn.
Dấu Nghịch Thiên nóng lên rồi lặng xuống. Nó không cho hắn sức mạnh miễn phí. Nó chỉ nhắc rằng mỗi lần hắn chọn đường ngắn qua chiếu thảo ma, trên da sẽ thêm một nét để người khác ở Trấn Bạch Thạch đọc thành ma. Hắn kéo tay áo che dấu ấy, không phải vì sợ trời, mà vì A Lạc hoặc người gần nhất với A Mộc vừa lùi nửa bước.
Bên cạnh mùi hồ dán và cháo khê, Tần Mạc nghe người ta nói về hắn bằng giọng đã được mài sẵn. Có người thêm, có người bớt, có người lặp lại để khỏi bị nghi mềm lòng. Hắn từng nghĩ lời dối trong chiếu thảo ma đáng ghét vì sai; giờ hắn biết nó còn đáng sợ vì giúp người nghe ở Trấn Bạch Thạch đỡ phải chọn.
A Lạc không nhìn hắn như một vị cứu tinh. Cái nhìn ấy có sợ, có oán, có một chút muốn hỏi mà không dám. Tần Mạc giữ cái nhìn của A Lạc lại trong trí nhớ, vì người được cứu cùng A Mộc không có bổn phận phải làm hắn thấy mình còn tốt.
A Mộc trở thành vật neo của chương này: con búp bê cũ bị tuột một sợi chỉ đỏ ở cổ tay. A Mộc không lớn bằng thanh y, không sáng bằng Thiên Luật, nhưng nó thuộc về một phần đời cụ thể ở Trấn Bạch Thạch. Nếu hắn không học giữ A Mộc và những thứ cụ thể như vậy, hắn không có quyền hỏi dòng sâu về một người cũng từng sống cụ thể.
Có một nhịp sau chiếu thảo ma, hắn muốn bỏ hết để chạy thẳng lên nơi cao hơn: Phật Đài, Thành Hoàng, Thiên Đình, bất cứ đâu buộc phải trả lời tên Tô Vãn. Ý nghĩ đó vừa nổi đã mang mùi Sát Đạo lẫn hồ dán, cháo khê và mực đỏ: đi nhanh, đi thẳng, đi qua người cản đường. Hắn ép mình đứng thêm một nhịp nữa.
Nhịp đứng ấy không được ai thưởng. Tống Nghiêm có lẽ sẽ chỉ ghi nó thành một dòng mơ hồ; Chu Bình có lẽ vẫn chê quá muộn. Tần Mạc không cần ai biến nó thành ý nghĩa. Hắn chỉ cần mình không quên rằng đã có một nhịp chưa để tay rơi xuống.
A Lạc bị kéo vào hàng người xem cáo thị vì đám đông đẩy từ phía sau. Con bé không đủ cao để thấy hết tranh, chỉ thấy chiếc áo trên hình vẽ bị tô đen quá đậm. Nó kiễng chân, A Mộc kẹp dưới nách, rồi lẩm bẩm rằng ca ca kia lúc cứu người không có mắt như vậy. Một đệ tử Hình Đường nghe loáng thoáng, quay đầu. Trần thị lập tức cúi xuống phủi bụi trên váy con, phủi lâu đến mức đầu ngón tay trắng bệch.
Người dán cáo thị không hung dữ. Hắn còn trẻ, trên cổ có vết dây áo giáp mới cọ đỏ, đọc sai một chữ liền bị chấp sự sau lưng nhắc. Chính sự vụng về ấy làm lời dối đáng sợ hơn: nó không cần một kẻ ác hoàn hảo, chỉ cần rất nhiều người bình thường đọc đúng phần được giao. Tần Mạc nhìn xuống từ mái quán trà, thấy chiếc thang tre rung mỗi lần dân ném câu chửi lên tranh.
Có bà bán cháo nhận ra hắn trước khi tự ép mình nhìn sang chỗ khác. Bà từng được hắn nhường đường khi bế thùng nước qua cống U Minh, việc nhỏ đến mức chẳng ai có thể làm chứng. Bây giờ bà múc cháo cho đệ tử đọc chiếu, tay run làm một hạt gạo rơi xuống bàn. Tần Mạc muốn hỏi bà có nhớ không, rồi tự ghét câu hỏi ấy vì nó giống đòi nợ.
Khi Hình Đường gọi tên những người phải lên Thiên Luật Điện, A Lạc ôm A Mộc chặt hơn. Búp bê bị ép méo mặt, sợi chỉ đỏ ở cổ tay đứt hẳn. Tần Mạc thấy sợi chỉ rơi xuống bùn, nhưng không thể nhảy xuống nhặt. Một việc nhỏ như thế bỗng có trọng lượng ngang một lời thề: có những thứ rơi trước mắt hắn mà hắn vẫn phải để người khác tự cúi xuống.
Khi bước tiếp, hắn không thấy mình thắng. Hắn chỉ thấy từ Trấn Bạch Thạch tới điện thẩm vấn phụ còn nhiều người không biết Tô Vãn là ai, không biết Trấn Hồn Đài đã nuốt nàng, không biết hắn vừa nuốt luật hay oán. Họ chỉ biết trời sáng hay mưa, A Mộc còn hay mất, người thân có thở qua đêm không. Câu hỏi của hắn phải đi qua thế gian ấy, không được nghiền nó dưới chân.